Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color

Tiêu chí hoạt động

Sample Image
LuatHoc.net là nơi để các chyên gia, các nhà nghiên cứu luật học, các giảng viên, sinh viên và mọi người yêu thích khoa học pháp lý cùng chia sẻ tri thức, tài liệu, kinh nghiệm

Hãy cùng chia sẻ

Sample Image
Nếu bạn có thông tin, hãy chia sẻ để mọi người đều biết đến. Nếu bạn cần thông tin, hãy tìm kiếm thông tin mà mọi người đã chia sẻ.

Đăng tin mới

Sample Image
Bạn có thể dễ dàng chia sẻ thông tin cùng mọi người bằng cách click vào menu Đăng tin ở phần menu chính. Tin của bạn sẽ tự động được xuất bản và nằm trong phần Tin mới nhận ở cuối trang web.
You are here:Trang chủ arrow Ngành luật arrow Luật NN và lý luận chung arrow Những vấn đề cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam
Những vấn đề cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam In E-mail
Người cập nhật: Mai-admin   

 

Những vấn đề cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.



ImageNGƯỜI BIÊN SOẠN: PGS. TS PHÙNG THẾ VẮC
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN PHÁP LUẬT - HỌC VIỆN ANND

1. MỘT SỐ NHẬN THỨC CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền và những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền.
1.1.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền không phải là vấn đề hoàn toàn mới lạ, mà là một phạm trù có nguồn gốc lịch sử tư tưởng từ xa xưa. Sự ra đời và phát triển của tư tưởng: “Nhà nước pháp quyền” gắn liền với sự ra đời và phát triển của dân chủ, của tư tưởng loại trừ sự chuyên quyền, độc đoán, vô chính phủ, vô pháp luật. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự thống nhất giữa tính tối cao của pháp luật với hình thức pháp lý của tổ chức, thực hiện quyền lực Nhà nước. Đó là hai yếu tố không thể thiếu được khi nói đến Nhà nước pháp quyền nói chung.
Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nhà nước tồn tại không thể thiếu pháp luật, ngược lại thiếu Nhà nước, pháp luật trở nên vô nghĩa. Bởi vì, pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện. Nhà nước cần đến pháp luật vì thông qua pháp luật, dựa vào pháp luật, nhà nước mới quản lý được đời sống xã hội. Dựa trên pháp luật và các công cụ khác, Nhà nước thiết lập một trật tự xã hội. Tuy vậy, lịch sử cho thấy không phải khi nào có Nhà nước, có pháp luật là có ngay Nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền không phải là kiểu nhà nước xét theo học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội. Nhà nước pháp quyền ra đời ở một giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.

Nhà nước pháp quyền từ quan điểm, tư tưởng đã dần trở thành thực tế lịch sử.
Trong khoa học pháp lý bàn về khái niệm Nhà nước pháp quyền vẫn còn nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau. Có ý kiến cho rằng Nhà nước pháp quyền là một hình thức nhà nước. Ý kiến khác lại cho rằng Nhà nước pháp quyền là một phương thức quản lý xã hội và thực hiện quyền lực nhà nước. Nhiều ý kiến cho rằng có nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN, nhưng nhà nước pháp quyền XHCN ở trình độ phát triển cao hơn nhà nước pháp quyền tư sản.
Tuy vậy, Nhà nước pháp quyền được hiểu tập trung theo hai khía cạnh chủ yếu sau:
Ở nghĩa chung nhất, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước trong đó pháp luật (đạo luật) thống trị trong xã hội. Nhà nước phải điều chỉnh được các quan hệ xã hội bằng pháp luật, một quốc gia nào đó chủ yếu điều chỉnh bằng văn bản dưới luật thì quốc gia đó chưa đủ về chất của Nhà nước pháp quyền.
Mặt khác, Nhà nước pháp quyền còn được hiểu là một hình thức tổ chức Nhà nước và hoạt động chính trị quyền lực công khai (công quyền), thể hiện mối quan hệ bình đẳng giữa các cá nhân và Nhà nước dựa trên cở sở của pháp luật.
Tại hội thảo về Nhà nước pháp quyền của các nước cùng sử dụng tiếng Pháp, tổ chức tại Bê-nanh tháng 9 năm 1991, từ các giác độ khác nhau, luật gia của trên 40 nước đã đưa ra các quan điểm như sau:
Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà ở đó quyền và nghĩa vụ của tất cả và của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo hộ; Nhà nước pháp quyền được định nghĩa chung là một chế độ mà ở đó Nhà nước và các cá nhân phải tuân thủ pháp luật, tức là một thứ bậc các quy phạm pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng toà án độc lập; Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất của con người; Nhà nước phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm cho công dân được chống lại chính sự tuỳ tiện của Nhà nước, Nhà nước đề ra pháp luật đồng thời phải tuân thủ pháp luật, tự đặt cho mình và các thiết chế của mình trong khuôn khổ pháp luật. Phải có các cơ chế khác nhau để kiểm tra tính hợp pháp và hợp hiến của pháp luật cũng như các hành vi của bộ máy hành chính...đặc điểm của Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải tạo ra cho công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền là một chế độ mà ở đó Hiến pháp thống trị, nhưng phải là một Hiến pháp được xây dựng trên sự tự do và quyền công dân được bảo đảm thực hiện.
Trong cuốn tìm hiểu một số khái niệm trong Văn kiện Đại hội IX của Đảng có định nghĩa: Nhà nước pháp quyền mà chúng ta quan niệm không phải là một kiểu nhà nước, trong lịch sử chỉ có bốn kiểu nhà nước: chủ nô, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền nói một cách khái quát là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật. Đương nhiên, bao giờ pháp luật cũng mang tính giai cấp, phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Tại bài viết về “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân” của Chủ tịch nước Trần Đức Lương đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1/ 2002 có đoạn viết: Nhà nước pháp quyền, nói một cách khác là hệ thống các tư tưởng, quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và đề cao quyền con người, quyền công dân.
Theo GS -TSKH Đào Trí Úc thì: Khi nói đến nhà nước pháp quyền là nói đến một phương thức tổ chức quyền lực nhà nước. Ở đó pháp luật là cơ sở cho việc tổ chức tốt nhất quyền lực nhà nước. (Hội thảo: "Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân ở Việt Nam" tổ chức tại Hà Nội ngày 30, 31/ 8/ 2002).  
Như vậy, lý luận về nhà nước pháp quyền là hệ thống các quan điểm, tư tưởng rất phức tạp, phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Tiếp cận nhà nước pháp quyền dưới giác độ tư tưởng, lý luận, bàn về các quan điểm, quan niệm về nhà nước pháp quyền. Lý luận về Nhà nước pháp quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN đang còn là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong chương trình khoa học và công nghệ cấp Nhà nước KX - 04.
Khái niệm Nhà nước pháp quyền có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng chung quy lại Nhà nước pháp quyền là khái niệm bao hàm những nội dung rất phong phú, chứa đựng những đặc trưng, những mặt cơ bản, ghi nhận một trạng thái phát triển, một trình độ phát triển của Nhà nước và tiến bộ xã hội. Tựu chung các ý kiến thường lấy các dấu hiệu đặc trưng để xác định nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền, như: tính tối cao của Luật, sự phân công quyền lực, dân chủ và bảo đảm quyền con người, trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân; tính độc lập của nền tư pháp... Theo đó: Nhà nước pháp quyền hiểu chung nhất là Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, trong đó mọi chủ thể kể cả nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật - một hệ thống pháp luật có tính phổ biến cao (đề cao tính tối cao của Hiến pháp và luật), phù hợp với ý chí, thể hiện đầy đủ những giá trị cao cả nhất của xã hội, của con người.

1.1.2. Đặc trưng và các giá trị cơ bản của Nhà nước pháp quyền.
a. Các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền gồm:
    - Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo tính tối cao của pháp luật, trong đó pháp luật là ý chí chung của nhân dân. Tính tối cao của pháp luật thể hiện trên hai phương diện:
    Thứ nhất: Đảm bảo sự thống trị của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn thiện, trong đó đề cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật.
    Thứ hai: Tính bắt buộc của pháp luật đối với bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Pháp luật là tiêu chuẩn, là căn cứ cho mọi hoạt động của nhà nước và xã hội. Nhà nước trong thiết chế của nhà nước pháp quyền là nhà nước tuân thủ pháp luật, mặc dù nhà nước là người ban hành ra pháp luật đó.
    - Nhà nước pháp quyền là nhà nước thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do, dân chủ của công dân. Nhà nước pháp quyền  không chỉ công nhận và tuyên bố các quyền tự do của công dân mà còn phải bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền đó khi chúng bị xâm hại. Tự do của một người là được làm những gì mà pháp luật không cấm trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm đến tự do của người khác, pháp luật chỉ cấm những gì có hại cho xã hội.
    - Nhà nước pháp quyền là nhà nước đảm bảo trách nhiệm lẫn nhau giữa nhà nước và công dân; quyền của công dân là trách nhiệm của nhà nước và ngược lại quyền của nhà nước là trách nhiệm của công dân. Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình còn công dân phải thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm pháp luật của mình.
    - Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải có hình thức tổ chức quyền lực nhà nước thích hợp và có cơ chế hữu hiệu giám sát sự tuân thủ pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện, chống chuyên quyền, lạm quyền.
    Xét trong cả chiều dài lịch sử của sự phát triển tư tưởng về nhà nước pháp quyền cho thấy những đặc trưng của nhà nước pháp quyền thể hiện những tư tưởng, quan niệm tiến bộ trong quá trình tìm tòi hình thức tổ chức, hoạt động của quyền lực công cộng trong một “xã hội công dân” thay thế “xã hội thần dân”.
b. Giá trị cơ bản của Nhà nước pháp quyền cần kế thừa và phát huy.
- Nhà nước pháp quyền đề cao pháp luật và các giá trị của pháp luật. Khẳng định, đề cao pháp luật là công cụ hữu hiệu để tổ chức quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải là ý chí chung của nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và các Luật. Đảm bảo cơ sở cho một nền pháp chế vững chắc, ổn định.
- Khẳng định tính pháp quyền của các thể chế nhà nước; tính bị ràng buộc bởi pháp luật về thẩm quyền, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước; Yêu cầu kiểm soát về quyền lực, đảm bảo sự giám sát đối với quá trình sử dụng quyền lực nhà nước. Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính pháp lý của quyền lực nhà nước, sự ràng buộc bởi pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan công quyền. Khẳng định và duy trì sự điều chỉnh của pháp luật đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, đội ngũ công chức nhà nước. Coi nhà nước là tổ chức công quyền chịu sự ràng buộc của pháp luật và quản lý xã hội thống nhất bằng pháp luật; chống lại sự chuyên quyền, độc đoán và sự tuỳ tiện của bộ máy nhà nước.
- Nhà nước pháp quyền khẳng định các giá trị của công lý, đề cao vai trò của Toà án và các cơ quan tư pháp. Nhà nước pháp quyền đảm bảo tính độc lập của cơ quan tư pháp. Đảm bảo mọi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện xử lý bình đẳng trước pháp luật.
- Thừa nhận công dân là chủ thể của “xã hội công dân”; công dân là đối tượng phục vụ của nhà nước, nhà nước có trách nhiệm với công dân, đảm bảo tự do của mỗi công dân trong khuôn khổ không xâm hại đến lợi ích của người khác và lợi ích xã hội. Nhà nước pháp quyền đảm bảo quyền con người và các quyền lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân. Khẳng định nhà nước là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
1.2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
    Dựa trên các Văn kiện của Đảng cộng sản Việt nam và Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, có thể khái quát những đặc trưng cơ bản thuộc nội hàm khái niệm nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam như sau:    
1.2.1 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, chất lượng cao thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luật phải giữ vị trí tối cao. Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà nước và mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.
1.2.2 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua hình thức dân chủ đại diện (qua cơ quan nhà nước do mình bầu ra) và hình thức dân chủ trực tiếp.
1.2.3 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực hiện được quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường được pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình.
1.2.4 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giưã các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía Nhà nước.
1.2.5 Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo. Đây là đặc điểm đặc trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận và đã được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của cách mạng Việt Nam.
    Với những đặc trưng nêu trên, nhà nước pháp quyền của chế độ ta thể hiện những tư tưởng quan điểm tích cực, tiến bộ, phản ánh ước mơ và khát vọng của nhân dân đối với công lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai cấp.
    Trong điều kiện đổi mới hiện nay, chúng ta đặt vấn đề đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, thực chất là tiếp thu những quan điểm tích cực, tiến bộ và khoa học về nhà nước pháp quyền nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đoàn kết dân tộc mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân - nông dân - trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đó là, Nhà nước đảm bảo tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà  nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Đó là, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân, ngăn ngừa sự tuỳ tiện từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm hiệu lực và hiệu quả hoạt động của nhà nước.
Đó là, Nhà nước mà mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, kể cả tổ chức Đảng, cán bộ, công chức đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
2. KHÁI QUÁT VỀ THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM.
    Đánh giá đúng về thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là vấn đề không đơn giản. Tuy nhiên những kết quả không thể phủ nhận được phải kể đến đó là kết quả trong nhận thức đặt nền tảng cho hành động; kết quả trong phát triển nghiên cứu lý luận về xây dựng nhà nước pháp quyền và những kết quả đạt được bước đầu trong thực tiễn của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
2.1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - bước đổi mới quan trọng trong nhận thức và hành động của Đảng và Nhà nước ta.
Trong tình hình mới của cách mạng Việt nam, Đảng và nhà nước ta đã sáng suốt khẳng định nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Nói cách khác việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam là một tất yếu khách quan. Nhận thức này được coi là một thắng lợi của quá trình đổi mới trong tiến trình xây dựng nhà nước XHCN ở nước ta.
    Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền lực nhân dân. Hiến pháp 1992 khẳng định: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Sở dĩ Đảng ta đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam vì những lý do cơ bản sau:
Thứ nhất: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam vì bản thân lý luận về nhà nước pháp quyền có những điểm tiến bộ, hợp lý trong việc thực hành quyền dân chủ, trong việc tổ chức, hoạt động của nhà nước. Nhà nước pháp quyền trong đặc trưng của nó có nhiều điểm phù hợp với bản chất của nhà nước ta. Tuy nhiên vì nhà nước và pháp luật luôn mang bản chất giai cấp sâu sắc, vì vậy Đảng ta xác định rõ: xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Thứ hai: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam còn xuất phát từ thực trạng tổ chức, hoạt động của nhà nước ta còn nhiều khiếm khuyết, yếu kém, chưa thực sự là nhà nước tuân thủ pháp luật và thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Bên cạnh những thành tựu rất to lớn đạt được, bộ máy nhà nước ta chưa thực sự trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản lý điều hành còn chưa nghiêm; kỷ cương xã hội bị buông lỏng làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta. Quản lý nhà nước chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ mới. Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân công phối hợp giữa cac cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp còn những điểm chưa rõ về chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ phân cấp giữa trung ương và địa phương còn một một số mặt chưa cụ thể làm cho tình trạng tập trung quan liêu cũng như phân tán, cục bộ chậm được khắc phục...Do đó Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh nhiệm vụ đẩy mạnh cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, trong đó cốt lõi là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Thứ ba: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam còn xuất phát từ tính tất yếu khách quan của sự phát triển của đất nước theo định hướng XHCN. Sự tất yếu khách quan ấy xuất phát từ định hướng xây dựng CNXCH mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Đảng ta ý thức sâu sắc rằng để đạt được một chế độ xã hội có mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; một Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ tư: Đặt vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt nam còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hoá. Nhu cầu hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, đảm bảo cho nhà nước không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.
    Trong thực tế, qua hơn mười lăm năm đổi mới, thực tiễn đã chứng minh quá trình cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn. Đây phải được coi là thành công quan trọng đầu tiên của thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.
2.2. Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Ngay từ khi ra đời Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và nay là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã là Nhà nước mang bản chất của nhà nước kiểu mới được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tính pháp quyền trong tổ chức, hoạt động của nhà nước đã thể hiện trong nhiều văn kiện Đảng và thể hiện ngày càng rõ nét hơn phù hợp với từng giai đoạn cách mạng trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Bản chất này của nhà nước tiếp tục được khẳng định trong các Cương lĩnh, các văn kiện của Đảng trong thời kỳ đổi mới, được thể chế hoá rõ trong Hiến pháp 1992 và Nghị quyết sửa đổi bổ sung Hiến pháp 1992.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam đòi hỏi phải dựa trên hệ thống lý luận phù hợp với chính điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam.
Tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam, trong các bản Hiến pháp thể hiện quá trình nhận thức ngày càng đúng đắn, đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn của Đảng, Nhà nước ta về tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại cũng như vấn đề xây dựng Nà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ở nước ta hiện nay. Những nhận thức cơ bản này là một đảm bảo quan trọng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đạt được kết quả thắng lợi.
     Ngay từ lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện hoàn cảnh nước ta. Tư tưởng của Người về Nhà nước pháp quyền là một bộ phận quan trọng trong kho tàng lý luận của Đảng ta. Trước hết pháp quyền được người sử dụng là khẩu hiệu để đấu tranh chống áp bức và chế độ phong kiến, thực dân, đế quốc. Trong bài viết "Yêu sách của dân An nam", Người từng đưa ra yêu cầu: "Phải thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật". Người nhấn mạnh: "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền". Xuất phát từ tư tưởng trên, khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân, Người đã khẳng định: Nhà nước ta là một nhà nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân, chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương đều do dân cử. Tư tưởng về xây dựng nhà nước kiểu mới của dân, do dân và vì dân ngày càng được thể hiện rõ nét trong các văn kiện của Đảng cộng sản Việt nam, trong các bản Hiến pháp qua các thời kỳ. Tuy nhiên, xét về thời điểm sử dụng thuật ngữ, lần đầu tiên Văn kiện của Đảng sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” là Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII. Tại phần thứ 2 về “Những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới” của Văn kiện hội nghị này đã nêu nhiệm vụ thứ 7 là “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt nam của dân, do dân và vì dân” . Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, quản lý mội mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền XHCN được xây dựng trên cở sở tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng lãnh đạo.
    Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khoá VII (1/ 1995) đã nêu ra 5 quan điểm cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng kiện toàn nhà nước; một trong 5 quan điểm là xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước XHCN của dân, do dân, vì dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với gia cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng do Đảng cộng sản lãnh đạo. Gắn xây dựng nhà nước pháp quyền với tăng cường pháp chế XHCN; quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng giáo dục đạo đức XHCN.
    Văn kiện đại hội lần thứ VIII tiếp tục nhắc lại 5 quan điểm và các nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước. Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 ban chấp hành TƯ khoá VIII về “phát huy quyền làm chủ của nhân dân tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững mạnh” khi đánh giá đã nêu nhận xét đầu tiên là: đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Mặt khác khi phân tích nguyên nhân yếu kém trong xây dựng nhà nước, Nghị quyết chỉ rõ: việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm vừa tìm tòi rút kinh nghiệm.
    Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định: Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan nhà nước, các tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Mặt khác Văn kiện cũng xác định: Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản là nhiệm vụ số một, nhiệm vụ bao trùm, chi phối các nhiệm vụ khác trong nội dung phần thứ IX về “đẩy mạnh cải cách tổ chức, hoạt động của Nhà nước...”.
    Như vậy, Văn kiện Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định rõ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là vấn đề tất yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời đúc kết tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong quá trình nhận thức, vận dụng và bổ sung vào thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.
2.3. Một số kết quả đạt được trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong thực tiễn.
2.3.1. Về xây dựng, củng cố, cải cách, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước.
    a. Đánh giá chung.
Thời gian qua trên cơ sở phân tích sâu sắc thực trạng của bộ máy nhà nước ta và yêu cầu của tình hình mới Đảng và Nhà nước đã đưa ra những kết luận quan trọng, vạch ra những quan điểm chỉ đạo và những giải pháp nhằm xây dựng kiện toàn bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Qua đó kết quả đạt nổi bật được thể hiện như:
    Tiếp tục phát huy cao độ bản chất dân chủ của nhà nước, tạo điều kiện cho nhân dân lao động thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của mình thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, tham gia tích cực vào xây dựng và bảo vệ nhà nước, kiểm tra giám sát hoạt động của nhà  nước, cán bộ, công chức nhà nước.
    Kiện toàn một bước bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, trong sạch, vững mạnh hoạt động có hiệu lực và hiệu quả; nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước trước nhân dân. Các thể chế hành chính nhà nước và tổ chức hành chính nhà nước đều được tăng cường, nền hành chính nhà nước đang đổi mới theo xu hướng dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá.
    Đảm bảo và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
    b. Các kết quả lớn cụ thể.
Các kết quả lớn cụ thể đạt được của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN  Việt Nam trong thời gian qua gồm:
    Đổi mới và nâng cao một bước chất lượng hoạt động của Quốc hội (các kỳ họp Quốc hội, chất lượng và hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị thế của Quốc hội trong bộ máy nhà nước và trong đòi sống xã hội). Quốc hội đang thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có khả năng thực hiện tốt nhất quyền lập pháp, quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.
    Củng cố, kiến toàn hội đồng nhân dân các cấp làm đúng chức năng, nhiệm vụ theo luật định.
    Cải cách một bước nền hành chính nhà nước, trước hết đã tập trung cải cách thủ tục hành chính, từng bước cải cách thể chế hành chính trên các lĩnh vực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện hội nhập quốc tế; xây dựng một hệ thống hành chính thông suốt, rõ về chức năng, nhiệm vụ, tinh giản gọn nhẹ (đổi mới chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, uỷ ban nhân dân các cấp).
    Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao. Việc quản lý, sử dụng, được đổi mới một bước theo các quy định của pháp luật về cán bộ công chức. Coi trọng  gắn kết hợp chế độ trách nhiệm, khen thưỏng và kỷ luật. Cải cách một bước chế độ tiền lương để nâng cao đời sống. Quan tâm đầu tư cho cán bộ cấp cơ sở.
    Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp đảm bảo dân chủ, khách quan, minh bạch, chống và giảm bớt oan, sai. Củng cố đồng bộ hệ thống cơ quan toà án, viện kiểm sát,điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp.
    Tiến hành kiên quyết thường xuyên công tác đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, xử lý nghiêm những người vi phạm đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, củng cố kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước.
2.3.2. Về xây dựng, đổi mới hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật.
    Trong thời gian qua, công tác xây dựng pháp luật được quan tâm hơn, cơ chế xây dựng pháp luật được đổi mới, do đó hệ thống pháp luật đã có những đổi mới quan trọng phù hợp với sự thay đổi cơ chế kinh tế, với tình hình và nhiệm vụ mới của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
    Hiến pháp được sửa đổi thích ứng với đòi hỏi của tình hình. Các văn bản luật được quan tâm ban hành để điều chỉnh cho hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật phát triển khá cân đối, điều chỉnh cho các lĩnh vực: tổ chức, hoạt động của nhà nước (Luật Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án, Viện kiểm sát...); trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; trong lĩnh vực kinh doanh (Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật kinh doanh bảo hiểm...); trong bảo vệ quyền của công dân và các chủ thể...
    Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật được tăng cường. Nhà nước đã dần thực sự dựa vào pháp luật để quản lý nhà nước và quản lý xã hội.
2.4. Những tồn tại cần khắc phục trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, yếu kém: tổ chức còn cồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, thảm quyền; tiêu chuẩn cán bộ, công chức nhà nước chưa được xác định rõ; hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước chưa cao.
Hoạt động lập pháp đang đứng trước yêu cầu to lớn về hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như yêu cầu mới mẻ, phức tạp của việc điều chỉnh pháp luật nên đã bộc lộ một số bất cập trong thiết kế hoàn thiện tổng thể  hệ thống pháp luật và trong xác định thứ tự ưu tiên cần thiết của từng văn bản pháp luật cũng như nâng cao tính khả thi và tính hiệu lực của văn bản pháp luật.
Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước còn bộc lộ không ít những nhược điểm, nhiều mặt còn chưa theo kịp và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Tổ chức  hành chính chưa thông suốt, còn hạn chế trong việc xử lý mối quan hệ ngang, thậm chí còn hiện tượng cục bộ, bản vị. Chế độ phân cấp trách nhiệm còn thiếu rành mạch. Thẩm quyền cá nhân chưa được quy định rõ. Phong cách làm việc trước dân của cán bộ, công chức còn là vấn đề bức xúc.
Về lĩnh vực tư pháp, tổ chức và  hoạt động còn nhiều bất cập, sai sót.
Hệ thống pháp luật còn cần tiếp tục đổi mới mạnh và sâu sắc hơn nữa. Nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền đang đặt ra là  quyết tâm đổi mới hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật nghiêm minh.
3. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ NỘI  DUNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ  DÂN.
3.1. Quan điểm chỉ đạo quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN không phải là xây dựng một Nhà nước mới khác về bản chất của Nhà nước XHCN mà Đảng và nhân dân ta đã tiến hành hơn mấy chục năm qua. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân là nhiệm vụ cốt lõi của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước, là cách cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt nam chính là quá trình tiếp tục xây dựng Nhà nước XHCN trong điều kiện hoàn cảnh mới. Dựa trên các văn kiện của Đảng, các quy định của Hiến pháp, quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
3.1.1. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải được thực hiện trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước và các văn kiện của Đảng ta.
3.1.2. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam nhưng phải giữ vững bản chất giai cấp, bản chất dân chủ thực sự rộng rãi của Nhà nước XHCN. Nhà nước Cộng hoã xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
3.1.3. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3.1.4. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, phù hợp với đặc điểm truyền thống về lịch sử, văn hoá Việt Nam, có bản sắc Việt Nam; đảm bảo kế thừa và phát huy truyền thống, kinh nghiệm quản lý đất nước của dân tộc ta qua suốt chiều dài lịch sử, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của thế giới.
3.1.5. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải trở thành yêu cầu cấp bách đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Nói cách khác bất cứ nội dung nào của cải cách tổ chức, hoạt động của nhà nước đều phải thấm nhuần yêu cầu và định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
3.1.6. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam là một quá trình từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện, phải tiến hành từng bước vững chắc, phải dựa trên cơ sở thường xuyên tổng kết thực tiễn, kịp thời điều chỉnh bổ sung. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN gắn liền với quá trình đổi mới kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, phát triển nền dân chủ xã hội XHCN và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị. Phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết và phải đảm bảo ổn định chính trị, ổn định kinh tế-xã hội, ngăn chặn được âm mưu và hành động của các thế lực thù địch và bọn cơ hội.
3.2. Nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.
3.2.1. Tiếp tục xây dựng hệ thống pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thực hiện nghiêm minh pháp luật, đáp ứng yêu cầu của với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hợp tác hội nhập quốc tế và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới.
Hướng đến hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của toàn xã hội, nhất là cho tổ chức, hoạt động của nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước, đồng thời có chuẩn mực rõ ràng để đánh giá đúng sai, tăng cường pháp chế trong đời sống nhà nước và xã hội.
Một mặt coi trọng hoàn thiện Hiến pháp, các luật điều chỉnh tất cả các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và xã hội, mặt khác phải xác định được thứ tự ưu tiên cần thiết và nâng cao tính khả thi, tính hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong cuộc sống. Đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật.
Pháp luật về tổ chức hoạt động của nhà nước phải đi liền với pháp luật về phát triển kinh tế, pháp luật về bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, pháp luật về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Pháp luật nội dung phải đi liền với pháp luật hình thức.
Pháp luật phải gắn liền với đảm bảo thực hiện pháp luật nghiêm minh.
Hoạt động lập pháp muốn vậy phải vừa đảm bảo chất lượng vừa phải theo kịp yêu cầu của sự phát triển. Mặt khác phải đẩy mạnh các hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, mở rộng các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật, dịch vụ và tư vấn pháp lý trong xã hội, xây dựng nếp sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật, xây dựng nền văn hoá pháp lý trong đời sống xã hội.
3.2.2. Tiếp cải cách thể chế và phương thức hoạt động của Nhà nước.
    Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trọng tâm là tăng cường công tác lập pháp, xây dựng chương trình dài hạn về lập pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn thi hành luật.
Quốc hội phải làm tốt chức năng của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước.
    Đẩy mạnh cải cách hành chính. Xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá. Điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ theo hướng thống nhất quản lý vĩ mô việc thực hiện các nhiêm vụ trong cả nước bằng hệ thống pháp luật, chính sách hoàn chỉnh. Định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ theo hướng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, cung cấp dịch vụ công.
    Phân công, phân cấp nâng cao tính chủ động của chính quyền địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý theo ngành và theo lãnh thổ; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; tổ chức hợp lý hội đồng nhân dân; kiện toàn các cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân và bộ máy chính quyền cấp cơ sở.
    Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng một nền tư pháp trong sạch, công tâm, khách quan, độc lập trong hoạt động nghiệp vụ đồng thời chịu sự kliểm tra, giám sát chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền. Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp. Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Sắp xếp lại hệ thống toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của tòa án các cấp. Tổ chức lại cơ quan điều tra theo hướng gọn đầu mối. Thành lập cảnh sát tư pháp.
3.2.3. Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế.
    Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, hoàn thiện các quy định vè tiêu chuẩn đại biểu, các quy định về bầu cử, ứng cử trên cơ sở thật sự phát huy dân chủ. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, mở rộng dân chủ trực tiếp ở cơ sở tạo điều kiện để nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thảo luận quyết định những vấn đề quan trọng.
    Chăm lo con người, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người. Tôn trọng các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
    Quan tâm giải quyết kịp thời  khiếu nại, tố cáo của công dân.
    Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
3.2.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực.
    Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, coi trọng cả năng lực và đạo đức.
    Có kế hoạch, chính sách đào tạo cán bộ, công chức và sắp xếp đội ngũ cán bộ công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn. Định kỳ kiểm tra, đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, kịp thời thay thế cán bộ, công chức thoái hoá, yếu kém.
    Tăng cường cán bộ cho cơ sở. Có chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn.
3.2.5. Đấu tranh chống tham nhũng.
    Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành từ TƯ đến cơ sở. Gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, chống buôn lậu.
    Bổ sung hoàn thiện các cơ chế chính sách, không để sở hở, lợi dụng.
    Xoá bỏ các thủ tục hành chính phiền hà. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm kê, kiểm soát. Cải cách cơ bản chế độ tiền lương nâng cao đời sống, chống đặc quyền đặc lợi.
    Phát huy vai trò của đảng viên, tổ chức đảng, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng và toàn xã hội trong đấu tranh chống tham nhũng. Có chính sách khen thưởng đối với người có thành tích.
    Thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức.
    Xử lý nghiêm theo pháp luật và theo Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực nào. Xem xét trách nhiệm hình sự hoặc có hình thức kỷ luật thích đáng đối với những người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi xảy ra những vụ tham nhũng lớn, gây hậu quả nghiêm trọng.
3.2.6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
    Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là yêu cầu cấp bách. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước là bảo đảm cho việc giữ vững bản chất XHCN của nhà nước và cho sự thành công của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
    Trong quá trình hiện nay sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thể hiện ở việc đề ra chủ trương, đường lối và các chính sách lớn địnhhướng cho sự phát triển trong từng thời kỳ; lãnh đạo nhà nước thực thi Hiến pháp, pháp luật; xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; xây dưng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, có trí tuệ, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; kiểm tra việc quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước; củng cố nâng cao chất lượng và hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên trong bộ máy nhà nước.






DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX.
2.    Văn kiện Hội nghị lần thứ  tám, Ban chấp hành Trung ương khoá VII.
3.    Văn kiện Hội nghị lần thứ  ba, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII.
4.    Văn kiện Hội nghị lần thứ  bảy, Ban chấp hành Trung ương khoá VIII.
5.    Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992.
6.    Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật. Trường Đại học Luật Hà Nội.
7.    Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật. Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội.
8.    Chương trình cải cách hành chính của Chính phủ giai đoạn 2001 - 2010.
9. Tạp chí Cộng sản. Số 1 - 2002.
10. Kỷ yếu Hội thảo đề tài KX - 04.


Cập nhật ( 25/09/2006 )
 
< Trước