Skip to content

Narrow screen resolution Wide screen resolution Auto adjust screen size Increase font size Decrease font size Default font size default color brick color green color

Tiêu chí hoạt động

Sample Image
LuatHoc.net là nơi để các chyên gia, các nhà nghiên cứu luật học, các giảng viên, sinh viên và mọi người yêu thích khoa học pháp lý cùng chia sẻ tri thức, tài liệu, kinh nghiệm

Hãy cùng chia sẻ

Sample Image
Nếu bạn có thông tin, hãy chia sẻ để mọi người đều biết đến. Nếu bạn cần thông tin, hãy tìm kiếm thông tin mà mọi người đã chia sẻ.

Đăng tin mới

Sample Image
Bạn có thể dễ dàng chia sẻ thông tin cùng mọi người bằng cách click vào menu Đăng tin ở phần menu chính. Tin của bạn sẽ tự động được xuất bản và nằm trong phần Tin mới nhận ở cuối trang web.
You are here:Trang chủ arrow Tài liệu khác arrow Tóm tắt các bài viết đáng lưu ý từ các tạp chí chuyên ngành
Tóm tắt các bài viết đáng lưu ý từ các tạp chí chuyên ngành In E-mail
Người cập nhật: Mai-admin   
Image

Sưu tầm & Giới thiệu bởi: Đinh Thị Mai. 

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các bạn trong nghiên cứu, học tập môn Luật Hình sự, Tố tụng hình sự, Luật Hành chính, Luật Kinh tế, dân sự... ban biên tập chúng tôi xin tổng hợp và giới thiệu nội dung tóm tắt các bài viết đáng lưu ý nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn pháp lý từ các tạp chí chuyên ngành số xuất bản từ tháng 3/2005 đến nay.

Số tháng 11/2005

Nhà nước và pháp luật

Phạm Hồng Thái: Xu hướng dịch chuyển quyền lực trong bộ máy hành chính và vấn đề dân chủ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số tháng 6/2005, tr.3-6: Việc dịch chuyển quyền lực trong bộ máy hành chính là do điều kiện chính trị - xã hội, do bối cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia quyết định, mà không có mô hình chung cho mọi quốc gia. Ở nước ta, tuỳ điều kiện kinh tế - xã hội từng thời kỳ mà có sự chuyển quyền lực từ "thủ tướng chế" sang "nội các chế" hoặc ngược lại. Thực chất của các quá trình này là sự tìm kiếm mô thức tổ chức quyền lực hợp lý, nhằm tạo dựng bộ máy hành chính gọn nhẹ, năng động... Ngày nay, có nhiều nhà khoa học khuyến nghị là nên chuyển cơ quan hành chính nhà nước địa phương từ chế độ làm việc tập thể sang chế độ thủ trưởng. Để đảm bảo chế độ dân chủ thì cơ quan hành chính chỉ nên thực hiện các quyền hạn thuộc lĩnh vực hành chính, không còn quyền quyết định những vấn đề có tính chính trị, quyền này phải thuộc về cơ quan đại biểu nhân dân.

Vũ Thư: Vài nét về thiết chế bảo vệ Hiến pháp, Tạp chí Toà án nhân dân, số 16/8-2005, tr.2-5: Thiết chế bảo hiến - theo nghĩa hẹp là bảo vệ Hiến pháp - có tính chuyên môn như Toà án Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp... Chức năng nhiệm vụ của nó phụ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi nước, nhưng nét chung nhất là bảo vệ Hiến pháp; bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân; bảo đảm cho các cơ quan nhà nước thực thi đúng pháp luật; bảo đảm tính hợp hiến của các diễn biến - chính trị xã hội liên quan đến bầu cử. Thủ tục bảo hiến thực chất là giải quyết các vụ kiện, chính vì thế, về cơ bản bảo hiến cũng giống các thủ tục giải quyết các vụ kiện khác trong hoạt động của nhà nước như thụ lý, hoặc từ chối đơn, thu thập và đánh giá chứng cứ... Về những vụ việc mà thiết chế bảo hiến được thụ lý, các nước quy định phạm vi không giống nhau. Có những nước, thiết chế bảo hiến có tầm hoạt động rộng, được triển khai đến rất nhiều loại việc, nhưng có nước thì chỉ quy định những thẩm quyền hạn hẹp.


Bùi Sĩ Hiển: Dân chủ hoá quá trình soạn thảo, bảo đảm minh bạch của các văn bản pháp luật là biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật, Tạp chí Luật học, số 4/2005, tr.3-9: Hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là chất lượng các văn bản pháp luật. Để đáp ứng được các yêu cầu quản lý nhà nước, thì quá trình soạn thảo văn bản phải được dân chủ hoá, công khai hoá. Mọi tầng lớp nhân dân đều được tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật. Việc để nhân dân đóng góp vào các dự thảo luật, các văn bản dưới luật, thậm chí là các văn bản hành chính thông thường sẽ giúp cho việc hoạch định chính sách và ban hành chính sách sát thực tiễn hơn, giảm chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật, tránh được tư tưởng cá nhân, cục bộ. Đồng thời, đây là biện pháp tuyên truyền pháp luật một cách hữu hiệu nhất. Các văn bản khi có hiệu lực thi hành phải được đăng tải trên Công báo một thời gian nhất định mới có hiệu lực, tránh tình trạng văn bản có hiệu lực rồi mới được đăng.


Nguyễn Minh Đoan: Bàn về khái niệm và những yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3(28)/2005, tr.3-8:
Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự tôn trọng, thực hiện pháp luật hiện hành một cách chính xác, thường xuyên và thống nhất. Hiến pháp và luật phải có tính tối cao so với các văn bản pháp luật khác; việc thực hiện và áp dụng pháp luật phải chính xác, triệt để; các quyền tự do của công dân, của tập thể và của các tổ chức trong xã hội phải được đáp ứng và bảo vệ; mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện và xử lý kịp thời; những khiếu nại và tố cáo của công dân phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng, đúng đắn; thường xuyên kiểm tra và giám sát thực hiện pháp luật.


Nguyễn Minh Đoan: Cần đẩy mạnh nghiên cứu dư luận phục vụ cho các hoạt động pháp luật, Tạp chí Luật học số 6/2005, tr.31-37:
Dư luận xã hội là sự phản ánh, phản ứng trước những hiện tượng kinh tế, chính trị, văn hoá trong đời sống. Nó phản ánh trình độ, khả năng nhận thức, đánh giá và khả năng ứng xử trước các vấn đề đó của dân chúng. Hiện nay, dư luận xã hội có quan hệ mật thiết với pháp luật, hỗ trợ cùng pháp luật trong việc điều chỉnh các hành vi, duy trì trật tự, nhiều trường hợp còn là sự thể hiện một phần của ý thức pháp luật. Nó thúc đẩy, củng cố việc hình thành những tư tưởng, quan điểm pháp lý phục vụ cho việc hoạch định chính sách pháp luật. Khi dư luận đồng tình thì việc thực hiện pháp luật luôn được tôn trọng, hiệu quả. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường, pháp luật không chỉ là ý chí của nhà nước, mà còn thể hiện ý chí nguyện vọng của các đối tượng bị pháp luật điều chỉnh. Do vậy, phải quan tâm đúng mức hơn đến dư luận xã hội. Cần xây dựng và đẩy mạnh tuyên truyền Luật Trưng cầu ý dân, cần có cơ quan, bộ phận nghiên cứu đánh giá dư luận từ trung ương đến địa phương.


Bùi Thị Đào: Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, Tạp chí Luật học số 3/2005, tr.53- 58:
Khiếu nại là quyền cơ bản của công dân do pháp luật quy định. Mặc dù các quy định trong lĩnh vực này đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng nếu xem khiếu nại vừa là phương tiện pháp lý để công dân bảo vệ quyền lợi của mình, vừa là biện pháp để bảo vệ pháp chế thì cần phải nghiên cứu thêm một số vấn đề như: điều kiện để một quyết định hành chính và hành vi hành chính có thể bị khiếu nại. Chính việc quy định một cách chưa rõ ràng như hiện nay đã dẫn đến cách hiểu về điều kiện để một quyết định hành chính và hành vi hành chính bị khiếu nại có khác nhau. Về thời hạn khiếu nại, các quy định chưa tính đến thời gian có trở ngại khách quan làm cho người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại. Về số lần khiếu nại và quyền khởi kiện ra toà cũng cần phải xem xét, bổ sung.


Hoàng Công Thái: Bàn về trợ giúp pháp lý với việc giải quyết khiếu nại của công dân, Tạp chí Thanh tra, tháng 6/2005, tr.23:
Trợ giúp pháp lý ra đời đã tạo điều kiện cho người dân được hưởng dịch vụ pháp lý thiết thực, nhất là đối với những công dân có trình độ thấp. Nhưng trong quá trình thực hiện, không ít trường hợp, sự trợ giúp chưa đúng làm phát sinh khiếu kiện kéo dài. Qua nghiên cứu một số vụ việc thì, việc trợ giúp thiếu cơ sở, không chính xác đều rơi vào các đối tượng trợ giúp không thu lệ phí. Nguyên nhân có thể là do không thu lệ phí hay do trình độ chuyên môn, do trách nhiệm của cán bộ trợ giúp pháp lý. Để khắc phục tình trạng này, yêu cầu đặt ra là cán bộ trợ giúp phải là người có trình độ chuyên môn pháp lý, có năng lực, có đạo đức pháp lý...

Pháp luật hình sự

Lê Cảm: Về các mục đích của hình phạt và hệ thống hình phạt, Tạp chí Kiểm sát số 17/9-2005, tr.26-31: Việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về mục đích hình phạt và hệ thống của hình phạt có ý nghĩa khoa học quan trọng. Khi nghiên cứu mục đích của hình phạt cần phải xem xét là, việc ghi nhận chúng trong pháp luật hình sự thực định vào các thời kỳ khác nhau nên chúng có thể khác nhau. Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, nhà làm luật cần ghi nhận không chỉ nội dung mà cả mục đích của hình phạt. Đối với hệ thống hình phạt, việc nghiên cứu phải từ khái niệm hệ thống hình phạt đến những tiêu chí, lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm cơ bản của hệ thống hình phạt và thực tiễn áp dụng chúng hiện nay.

 

Pháp luật kinh tế

Đào Văn Hùng và Trần Long: Hạn chế tác động tiêu cực của Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (HĐ) tới hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 7(489)/2005, tr.45-49: Tác động tiêu cực của HĐ có thể xảy ra đối với dịch vụ tiền gửi, hoạt động tín dụng, ngoại tệ và kinh doanh ngoại tệ... Để hạn chế những tác động tiêu cực trên, cần quán triệt nội dung cam kết trong hiệp định, cơ cấu lại mô hình tổ chức, tăng cường năng lực quản trị điều hành, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ tiên tiến. Đào tạo, tuyển dụng và xây dựng một đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ ngân hàng, tận dụng tốt thành tựu về công nghệ thông tin... tăng cường phối hợp giữa các NHTM trong nước và đổi mới công tác kiểm toán nội bộ. Ngoài ra, Chính phủ cần tăng cường năng lực tài chính cho các NHTM quốc doanh, hỗ trợ tài chính và thúc đẩy quá trình cải cách, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tăng cường quyền chủ động cho NHTM nhà nước về chính sách lương, thưởng. Đối với Ngân hàng nhà nước, phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật ngân hàng đáp ứng yêu cầu của HĐ, đổi mới công tác thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế...


Bùi Xuân Hải: Người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 - nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(29)/2005, tr.14-20: Xác định đúng ai là người quản lý công ty và áp đặt hợp lý các nghĩa vụ pháp lý cho họ sẽ góp phần làm cho việc quản trị công ty có hiệu quả, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cổ đông cũng như các bên liên quan. Theo Luật Doanh nghiệp 1999, người quản lý công ty được xác định là người có chức danh giám đốc hay tổng giám đốc. Trong khi đó, theo luật của các nước theo mô hình pháp luật Anh, Mỹ thì người điều hành hoạt động của công ty được hiểu khá rộng, bao hàm cả người có chức danh và người không có chức danh, thành phần Hội đồng giám đốc gồm cả các giám đốc điều hành và giám đốc không điều hành, trong đó giám đốc điều hành phải là người lao động của công ty, còn giám đốc không điều hành không phải là lao động của công ty. Mô hình trên có nhiều ưu điểm vì nó bao quát thực tế hơn. Thực tiễn nước ta cũng đã xảy ra các trường hợp, có doanh nghiệp tồn tại cả những giám đốc giấu mặt và cả giám đốc thực tế, trong khi pháp luật nước ta chưa quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến việc xử lý gặp khó khăn.


Nguyễn Quý Thọ: Nghị định 61/NĐ-CP về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhìn từ thực tiễn, Tạp chí Thanh tra, số tháng 7/2005, tr.24-25:
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 61/1998/NĐ-CP, công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp đã có những chuyển biến tốt, các cuộc thanh tra, kiểm tra trùng lặp giảm rõ rệt. Nhưng Nghị định cũng bộc lộ những bất cập, thiếu sót, như chưa thể hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra nói riêng, dẫn đến thanh tra trùng lắp; trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra chưa cụ thể hoá một cách đầy đủ bằng văn bản pháp luật; thời hạn thanh tra, kiểm tra không phù hợp với Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành, làm cho hiệu lực thi hành còn nhiều hạn chế; chưa quy định rõ quy chế phối hợp thống nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra. Để khắc phục những bất cập, thiếu sót trên, cần nghiên cứu sửa đổi Nghị định theo hướng bổ sung các quy định về phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra; trao đổi thông tin giữa các cơ quan về chương trình thanh tra, kiểm tra; quy định lại theo hướng phân định rõ chức năng, phạm vi hoạt động của các cơ quan thanh tra, kiểm tra; các quy định về thủ tục, thời gian thanh tra, kiểm tra phải phù hợp với các luật có liên quan.


Dương Hoài Linh: Luật Doanh nghiệp thống nhất (LDNTN) sẽ tạo ra những khác biệt thực sự, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.18-19:
LDNTN có sự khác biệt đối với hệ thống pháp luật quản lý doanh nghiệp (DN) trong những vấn đề sau: thay đổi cơ bản quan điểm về quản lý DN; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng hơn giữa các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài; chú trọng hơn đến vấn đề quản trị trong các DN. Để LDNTN đi vào cuộc sống, cần rà soát lại các văn bản pháp luật, các quy định có liên quan như Luật Đầu tư chung, Luật DN nhà nước năm 2003. Kiện toàn lại bộ máy đăng ký kinh doanh hiện nay, đồng thời rà soát lại hệ thống giấy phép hiện hành, nhằm hạn chế việc gia tăng các giấy phép con. Cuối cùng, phải nhanh chóng chuyển đổi, cổ phần hoá các DN nhà nước nhằm đưa các DN này vào diện điều chỉnh của LDNTN.

Lê Hoàng Tùng: Luật Doanh nghiệp chung (LDNC) mối quan tâm không của riêng ai, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.20-23: LDNC tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư và các cơ quan giám sát bằng việc tăng yêu cầu về công khai hoá và kiểm soát thông tin đối với doanh nghiệp (DN); tăng quyền và nghĩa vụ của chủ DN đối với các khoản vốn đầu tư của mình; ràng buộc trách nhiệm trong việc định giá tài sản góp vốn, đưa ra những quy định chặt chẽ hơn trong việc chào bán cổ phần và thông qua các quyết định đối với công ty cổ phần. Nhưng một số nội dung của dự thảo cần phải được đầu tư thêm để hoàn thiện, như: định nghĩa về vốn điều lệ cần bổ sung thương hiệu là tài sản góp vốn; khái niệm về thị trường của phần góp vốn hoặc cổ phần còn rườm rà và khó hiểu trong khi chỉ cần ghi: “là mức giá hợp lý được thoả thuận giữa người mua và người bán”. Quy định về các tiêu chuẩn của giám đốc, mức thù lao.. quá chi tiết và can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ của DN, trong khi những điều này có thể quy định trong điều lệ của DN. Cần cho phép cá nhân được thành lập công ty TNHH. Ngoài ra, dự thảo đã đưa ra những quy định phân biệt đối xử giữa DN trong nước và DN đầu tư nước ngoài, trong điều kiện hiện nay, quy định như trên là một rào cản.

Việt Tuấn: Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài: những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.23-24: Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam quá nhỏ so với tiềm năng. Có nhiều lý do của tình trạng này, trong đó có lý do thủ tục quá phức tạp: Doanh nghiệp (DN) phải đáp ứng được các điều kiện, như dự án phải có tính khả thi; không nợ nghĩa vụ tài chính, thuế với nhà nước. Đồng thời, DN chỉ được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chứ chưa được phép tham gia đầu tư với hình thức mua cổ phần, cổ phiếu ở nước ngoài. Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các DN còn lỏng lẻo. Các quy định xin phép, cấp giấy phép còn nhiều vướng mắc kéo dài. Để hoạt động đầu tư ra nước ngoài tương xứng với tiềm năng thì phải tạo ra môi trường pháp lý mở cửa, thông thoáng bằng cách rút ngắn thời gian, quy trình thẩm định cấp giấy phép đầu tư, chuyển tiền đầu tư ra nước ngoài. Khuyến khích DN sử dụng lao động và nguyên vật liệu từ trong nước. DN cần chuẩn bị kỹ từ khâu nghiên cứu thị trường, chính sách pháp luật, chính sách thuế của nước sở tại


Số tháng 9 /2005

Nhà nước và pháp luật

Nguyễn Văn Mạnh, Nhận thức mới về vai trò, chức năng của nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và mở cửa ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5 (5/2005), tr.27-33: Trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường, vai trò của nhà nước ở mỗi quốc gia, mỗi chế độ có những đặc thù khác nhau. Đối với nước ta, để thực hiện tốt vai trò của mình, nhà nước phải tạo một môi trường pháp lý thuận lợi và khuôn khổ giới hạn cho các hoạt động kinh tế; thực hiện quản lý kinh tế vĩ mô; bảo đảm quốc phòng, an ninh, cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công cộng; xây dựng và thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và làm tốt chức năng đối ngoại phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đảm bảo thực hiện các chức năng trên, cần tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; đổi mới công tác cán bộ; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng.

Tường Duy Kiên, Tăng cường hoạt động lập pháp bảo đảm quyền con người đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5(5/2005), tr.34-41: Một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải được tôn trọng và bảo đảm thực hiện. Trong hoạt động lập pháp, quyền con người là nội dung ưu tiên hàng đầu vì pháp luật chính là phương tiện ghi nhận hay pháp lý hóa giá trị xã hội, quyền tự nhiên của con người. Cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Quyền về dân sự, chính trị cần được chế định thêm, cụ thể và rõ ràng hơn. Các quyền về kinh tế, xã hội văn hóa cũng cần sớm được nghiên cứu và tổng kết thực tiễn.

Phạm Hồng Thái, Bàn về vai trò của Chính phủ trong việc xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 114 tháng 7/2005, tr.10: Chính phủ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng các đạo luật, pháp lệnh. Chính phủ và các cơ quan thuộc bộ máy hành chính là cơ quan thường trực của Nhà nước, đối mặt với thực tiễn, trực tiếp giải quyết công việc hàng ngày của quốc gia. Do vậy không một cơ quan nào am hiểu nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội trong quản lý nhà nước, những khoảng trống của pháp luật bằng Chính phủ. Để nâng cao chất lượng các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ xây dựng, thì Chính Phủ cần tiến hành phân tích, xây dựng chính sách pháp luật, cần có những quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân được phân công soạn thảo, thẩm tra các dự án.

Bùi Ngọc Sơn, Chủ tịch Hồ Chí Minh với thiết chế Chủ tịch nước, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, tháng 5/2005, tr.3-8: Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959 đưa ra chế định Chủ tịch nước và xác định Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia, do nhân dân lựa chọn thông qua Quốc hội, gắn với hành pháp. Đến các Hiến pháp sau này quy định Chủ tịch nước (Nguyên thủ quốc gia) gắn với lập pháp. Việc thay đổi này có thể không phù hợp với bản chất của Nguyên thủ quốc gia. Hơn nữa, điều này còn làm cho Nguyên thủ quốc gia trở nên không có thực quyền. Thiết nghĩ, cần kế thừa và phát triển tư tưởng của Bác là Chủ tịch nước gắn với hành pháp, cụ thể giao cho Chủ tịch nước lãnh đạo Chính phủ, có quyền phủ quyết và chuyển một số quyền của Quốc hội cho Chủ tịch nước.

Hoàng Thị Kim Quế, Nghiên cứu nhà n­ước pháp quyền (NNPQ) ở nư­ớc ta: Góp phần nhìn lại và suy ngẫm, Tạp chí Nhà nư­ớc và pháp luật, tháng 5/2005, tr.9-14: Việc nghiên cứu NNPQ ở nư­ớc ta mới được thực hiện trong khoảng hơn 15 năm nhưng đã đạt được những thành tựu đáng trân trọng. Nó đã tập hợp được tất cả các ngành khoa học pháp lý và nhiều ngành khoa học và xã hội nhân văn cùng tham gia nghiên cứu. Việc nghiên cứu này đư­ợc tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau như­ng trên cơ sở thống nhất và đa dạng, NNPQ đã từng bước đi vào cuộc sống. Việc xây dựng NNPQ ở nư­ớc ta phải dựa trên cái phổ biến và cái đặc thù. Cần nghiên cứu và áp dụng cơ sở pháp lý của cơ chế phân công- phối hợp - kiểm tra, giám sát; về xã hội công dân; về tính tối cao của các đạo luật pháp quyền và phải nhận thức rằng NNPQ không chỉ là kết quả mà là quá trình lâu dài.

Phạm Duy Nghĩa, Từ lệ làng tới LEX UNIVERSUM : Vai trò của giới luật học trong lập pháp thời nay, Tạp chí Khoa học pháp lý[1], số 3 (28)/2005, tr.9-14: ở nước ta, thiếu luật không sợ bằng thừa luật. Luật dở sẽ tạo ra muôn vàn thói quen dở của cả quan lẫn dân, bởi vậy cần phải thận trọng khi làm luật. Trong vài thập kỷ qua, những tư tưởng pháp luật làm rung chuyển nền kinh tế nước ta, hầu hết không do giới luật học khởi xướng. Để giới luật gia được đóng góp vào việc lập pháp thì cần phải xây dựng một nền quan chế với những quy trình làm luật biết lắng nghe tiếng nói phản biện của giới trí thức nói chung và giới luật học nói riêng; phải đào tạo những tố chất trí thức cho giới luật học. Vai trò của các luật gia trong lập pháp thông qua nhiều kênh đa dạng như thông qua định hướng dư luận; tư vấn cho các nhóm lợi ích, cho các hiệp hội, các nghị sĩ Quốc hội; tham gia soạn thảo xây dựng, chính sách pháp luật; qua bình luận khoa học, các học lý...

Nguyễn Ngọc Sơn, Bảo vệ và thực thi có hiệu quả sở hữu trí tuệ của ngành Hải quan - điều kiện để Việt Nam gia nhập WTO, Tạp chí Luật học số 2/2005, tr.35-41: Gia nhập WTO có tầm quan trọng hàng đầu của Nhà nước ta. Trong quá trình đàm phán để gia nhập tổ chức này thì vấn đề bảo hộ và tổ chức thực hiện quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa vô cùng to lớn. Chúng ta đã có nhiều văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Hải quan trong lĩnh vực này, nhưng thực tế, việc bảo vệ quyền sử hữu trí tuệ chưa đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân là do sự thiếu hiểu biết đầy đủ về pháp luật sở hữu trí tuệ và thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; thủ tục còn khó khăn cho người có yêu cầu bảo hộ; các quy định cụ thể đảm bảo thuận lợi cho việc thực thi còn chung chung. Để khắc phục tình trạng trên, cần thực hiện một số giải pháp như, rà soát hệ thống văn bản liên quan đến vấn đề này, kịp thời điều chỉnh, bổ sung ban hành các quy định mới tương thích với các quy định của pháp luật quốc tế; đảm bảo việc thực thi các chuẩn mực của các hiệp định, điều ước và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký.

Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Trịnh Kiểm, Một số kinh nghiệm từ kết quả công tác cai nghiện ma tuý tại Tuyên Quang, Tạp chí Kiểm sát số 12 tháng 6/2005, tr.11-13: Trước năm 1996, công tác phòng chống ma tuý được chia ra nhiều công đoạn, có nhiều ban ngành cùng tham gia, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm. Thấy được những nhược điểm này, Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã giao cho Công an trách nhiệm chính, các ngành khác mang tính phối hợp dẫn đến kết quả rất khả quan. Để việc phòng chống ma tuý trên cả nước đạt kết quả, đề nghị Quốc hội và Chính phủ cần xem xét, nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để phân công nhiệm vụ cụ thể. Thành lập lại Uỷ ban quốc gia phòng chống ma tuý, kiện toàn cơ quan phòng chống ma tuý trong ngành Công an, quy định nhiệm vụ của cơ quan này là quản lý nhà nước về phòng chống ma tuý, giúp Chính phủ chỉ đạo, điều phối, phân công, phân nhiệm các hoạt động của các cơ quan ban ngành. Đồng thời là cơ quan chủ trì tổ chức vận động nhân dân và xã hội tham gia phòng chống ma tuý.

Pháp luật dân sự

Hoàng Ngọc Thành, Một số ý kiến về giải quyết tranh chấp nợ hụi, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 5/2005, tr. 28-30: Chơi hụi, họ (hụi) có nhiều hình thức và tính chất khác nhau như­ng quy ra có hai loại. Loại hụi không có lãi, đây là loại hụi mang tính giúp đỡ lẫn nhau và là giao dịch dân sự thuần túy. Loại hụi có lãi mang tính kinh doanh, lãi nặng hoặc lừa đảo. Do tính chất phức tạp về việc chơi hụi nên hiện nay Nhà nư­ớc nghiêm cấm tất cả các hình thức chơi hụi và nếu có tranh chấp thì tùy từng mức độ mà xử lý. Mặc dù bị cấm nhưng hiện t­ượng này vẫn diễn ra và có tranh chấp. Giải quyết tình trạng này là một việc khó khăn và phức tạp. Nên cân nhắc nếu công nhận là một giao dịch dân sự hợp pháp thì phải quy định cụ thể giao dịch nào đ­ược công nhận và giao dịch nào không đ­ược công nhận. Đồng thời, phải quy định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Tr­ường hợp không công nhận, thì phải coi mọi giao dịch của loại hình này đều là vô hiệu.

Nguyễn Phương Lan, Một số ý kiến về việc nhận nuôi con nuôi, Tạp chí Luật học, số 2/2005, tr.17-23: Theo quy định, vợ chồng có thể cùng nhận con nuôi hoặc chỉ một bên là vợ hoặc chồng cũng có thể nhận con nuôi nhưng phải có chữ ký của người kia. Do việc quy định về lĩnh vực này còn chung chung, thậm chí còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm "giới" với " giới tính" nên việc xác định thế nào là vợ chồng đôi lúc rất khó khăn. Cần định nghĩa chính xác và khoa học hơn về vợ chồng. Theo khoản 1, Điều 36, Nghị định 69/CP ngày 10/7/2002, "... vợ chồng là những người khác giới có quan hệ hôn nhân". Nên thay đổi là "Vợ chồng phải là những người khác giới tính có quan hệ hôn nhân hợp pháp". Về việc quy định chỉ một người, vợ hoặc chồng nhận nuôi con thì phải có chữa ký của của người kia, để tránh việc lợi dụng việc xin nhận con nuôi vì động cơ cá nhân nên quy định chỉ chấp nhận cho nhận con nuôi khi cả hai vợ chồng cùng nhận con nuôi.

Nguyễn Thị Hương, Quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc giữa con riêng với mẹ kế cần được quy định cụ thể hơn, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 7/2005, tr.48-49: Do Điều 682, Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về việc chăm sóc nuôi dưỡng giữa con riêng với mẹ kế chưa được cụ thể nên trong quá trình áp dụng giải quyết đã có nhiều quan điểm khác nhau. Do vậy, cần phải sửa đổi điều luật này theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn như việc chăm sóc, nuôi dưỡng đến độ tuổi nào, phạm vi mức độ, cách thể hiện ra sao; việc nuôi dưỡng có phụ thuộc vào việc cha, mẹ đẻ còn sống không.

Pháp luật hình sự

Nguyễn Sơn, Cần sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật Hình sự về các tội về ma tuý, Tạp chí Kiểm sát số 12 tháng 6/2005, tr.25-27: Các quy định của pháp luật liên quan đến việc xử lý tội phạm về ma tuý không ngừng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Nhưng do những vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực này diễn ra rất phức tạp, một số quy định đã không còn phù hợp, có quy định bất cập so với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, vì vậy còn phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung, cụ thể: không nên ghép nhiều tội trong cùng một điều luật, cần quy định cụ thể về trọng lượng tối đa của chất ma tuý tại khoản 3, Điều 194, Bộ luật Hình sự nhiều gấp 10 lần trọng lượng tối thiểu của khoản 2, Điều này, từ công thức trên có thể tính trọng lượng ma tuý cho các khoản khác. Hiện nay, văn bản hướng dẫn, giải thích pháp luật còn tản mạn, một số nội dung chồng chéo hoặc chỉ có tính chất đơn ngành dẫn đến áp dụng khó khăn. Vậy, cần tổ chức sơ kết việc thực hiện các văn bản hướng dẫn áp dụng xử lý từ đó tìm ra những bất cập để khắc phục.

Pháp luật kinh tế

Đỗ Ngân Bình, Bất hợp lý trong một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 7 năm 2005, tr.26-31: Mặc dù Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung nhưng sau hai năm đi vào cuộc sống đã thể hiện tính bất hợp lý ở một số quy định. Việc chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động bị đánh đập, bảo hiểm xã hội cho người lao động còn chưa được cụ thể, chưa chặt chẽ dễ tạo ra kẽ hở, dễ bị lợi dụng trong một số trường hợp, như: quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện, chế độ thai sản, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Đối với vai trò công đoàn ở cấp cơ sở theo quy định việc thành lập trên nguyên tắc tự nguyện. Nhà nước và người sử dụng lao động chỉ tạo điều kiện chứ không có trách nhiệm phải thành lập. Do vậy, khi doanh nghiệp không thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở vẫn không coi là có vi phạm pháp luật. Những bất hợp lý trên cần phải được sửa đổi, bổ sung một cách triệt để nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động.

Nguyễn Văn Phương, Khó khăn về xác định quyền vay vốn của doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Thương mại, số 21 tháng 6/2005, tr.11-12: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước về quy chế quản lý tài chính thì tổng giám đốc (giám đốc) có quyền quyết định và ký các hợp đồng vay theo phân cấp, uỷ quyền, nhưng giá trị của các hợp đồng vay này không được vượt quá vốn điều lệ của công ty. Do không quy định rõ thẩm quyền quyết định hợp đồng vay, nên có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người hiểu tổng giám đốc (giám đốc) được quyết định và ký kết một hay nhiều hợp đồng vay vốn có giá trị không được vượt quá vốn điều lệ, có người lại hiểu chỉ được quyết định và ký kết một hợp đồng vay vốn. Trong mỗi cách hiểu trên lại có nhiều vấn đề nảy sinh. Chính vì vậy thời gian qua, một số công ty nhà nước gặp khó khăn trong vấn đề vay vốn. Đề nghị Bộ Tài chính cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn.

Nguyễn Văn Hiệu-Nguyễn Minh Hằng, Xác định giá tính thuế theo hiệp định GATT/WTO (HĐ): Một năm nhìn lại, Tạp chí Tài chính, số 7(489) 2005, tr. 50: Qua một năm áp dụng giá tính thuế theo HĐ đã đạt được một số kết quả, như: tạo ra những thay đổi tích cực về mặt thủ tục dẫn tới sự thông thoáng cho các hoạt động xuất, nhập khẩu, doanh nghiệp đã chủ động trong việc xác định giá tính thuế... Bên cạnh đó, còn những tồn tại như hiện tượng gian lận thương mại qua giá xảy ra phổ biến, việc xây dựng, cập nhật, trao đổi thông tin về giá còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này là phương thức quản lý giá tính thuế chưa phù hợp, trình độ năng lực của cán bộ Hải quan chưa đáp ứng được yêu cầu, một số lãnh đạo Hải quan địa phương chưa quan tâm đúng mức đến việc cập nhật, trao đổi, quản lý, sử dụng nguồn thông tin về giá. Các văn bản pháp luật hướng dẫn và bổ trợ cho việc áp dụng chưa được hoàn chỉnh đồng bộ. Do vậy, cần rà soát và hoàn chỉnh lại hệ thống các văn bản pháp quy, nhanh chóng hoàn thiện quy trình quản lý giá thuế, quy trình kiểm tra sau thông quan, nhanh chóng hiện đại hoá ngành Hải quan, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan, phổ biến tuyên truyền pháp luật đối với đối tượng nộp thuế.


Mục Tạp chí trong tạp chí số 8/2005 tiếp tục giới thiệu tới độc giả nội dung tổng hợp những bài viết của nhiều tác đăng trên các Tạp chí.

Nhà nước và pháp luật

Nguyễn Quang Thái, Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 5/2005, tr.43-48: Khi hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng vẫn do Tòa án thực hiện thì hầu như­ quan niệm thi hành án không có tranh luận. Nh­ưng từ khi hoạt động thi hành án đ­ược chuyển cho cơ quan của Chính phủ thì có quan điểm cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố tụng. Như­ng có quan điểm cho rằng, đây chỉ là hoạt động quản lý hành chính tư pháp vì quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án đã chấm dứt. Tác giả không đồng nhất với hai quan điểm trên mà cho rằng, đây là một hoạt động tư pháp của Nhà nư­ớc.

Lưu Tiến Dũng, Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử, Tạp chí Toà án số 10 (5/2005), tr.10-14: Pháp luật nước ta quy định Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử; Thẩm phán không được giải thích luật. Nhưng pháp luật để áp dụng không phải chỉ là Hiến pháp hoặc các đạo luật mà bao gồm cả các hướng dẫn của các cơ quan và các cá nhân có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương. Thậm chí, Thẩm phán, Hội thẩm nhiều khi chỉ áp dụng trực tiếp các văn bản hướng dẫn. Trong thực tế, Thẩm phán được giao một đặc quyền và một trọng trách vô cùng to lớn là quyết định cuối cùng việc áp dụng pháp luật. Vậy, để cho Thẩm phán thực hiện tốt trọng trách của mình trong khi pháp luật chưa cho Thẩm phán các quyền giải thích luật thì cũng cần khuyến khích họ chủ động hơn nữa trong việc độc lập áp dụng pháp luật đi kèm với trách nhiệm giải trình về sự lựa chọn của mình một cách công khai, minh bạch trong phán quyết của mình.

Lê Duy Ninh, Khái niệm và định nghĩa khái niệm trong luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2005, tr.49-53: Mỗi khái niệm đều có hai mặt, đó là nội hàm và ngoại diên. Nội hàm là chất, tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ảnh trong khái niệm. Ngoại diên là lượng của khái niệm. Hai định nghĩa thường được sử dụng là định nghĩa theo tập hợp và định nghĩa thông qua liệt kê. Mỗi cách định nghĩa đều có ưu điểm nhưng xét một cách toàn cục thì cách định nghĩa thứ nhất có lợi thế hơn. Với những văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, có tính ổn định lâu dài như bộ luật, luật thì nên đưa vào nhiều định nghĩa này, còn văn bản dưới luật thì trong trường hợp không thể khác được vẫn có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê. Về định nghĩa tập hợp, định nghĩa phải cân đối, không được lòng vòng, phải ngắn gọn, chuẩn xác, rõ ràng và không nên định nghĩa phủ định.

Ngọ Văn Nhân, Sự tác động của dư luận xã hội đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cơ sở ở nước ta hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 5/2005, tr.22- 27: Đội ngũ cán bộ cơ sở là những người trực tiếp tiếp xúc giải quyết các công việc với nhân dân. Vì vậy, họ chịu sự tác động rất lớn của dư luận xã hội trên địa bàn. Dư luận đòi hỏi cán bộ phải có một trình độ kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật, phải luôn gương mẫu trong việc áp dụng và tuân thủ pháp luật. Dư luận còn gây sức ép chống các biểu hiện tiêu cực trong lối sống của cán bộ, phê phán, lên án hành vi vi phạm pháp luật khiến cho cán bộ phải có ý thức điều chỉnh hành vi của mình, đồng thời còn biểu dương, khen ngợi. Bên cạnh những tác động tích cực, dư luận xã hội còn có thể tác động tiêu cực đến đội ngũ cán bộ, như khi dư luận phản ánh sai thực tế khiến cán bộ lúng túng, có thể làm mất đi phần nào tính tự chủ, quyết đoán, làm cho cán bộ e ngại, sợ va chạm. Nếu đề cao quá mức sẽ phát sinh tình trạng a dua theo dư luận xã hội. Nhưng nếu coi thường có thể dẫn đến việc phớt lờ dư luận để giải quyết công việc theo ý của mình. Ngoài ra, tin đồn thất thiệt có thể gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của cán bộ.

Phạm Hữu Nghị, Vấn đề quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2005, tr.20-23: Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa bao quát. Trong các văn bản hiện hành, chưa thể hiện rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn cũng như sự phân cấp của các cơ quan liên quan. Do vậy, cần bổ sung một số nội dung như phát triển và quản lý các dịch vụ về bảo vệ môi trường, tổ chức thu và quản lý việc sử dụng phí bảo vệ môi trường… Đồng thời, cần làm rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn các Bộ, ngành, các cơ quan trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và cần thể hiện rõ sự phân cấp trách nhiệm cho Uỷ ban nhân dân trong lĩnh vực này.

Pháp luật kinh tế

Phan Xuân Tuy và Nguyễn Ngọc Hà, Bàn về vi phạm hợp đồng kinh tế và lợi dụng hợp đồng kinh tế để phạm tội, Tạp chí Kiểm sát số 11(6/2005), tr. 28: Vi phạm hợp đồng kinh tế chính là vi phạm quy định nào đó trong pháp luật về hợp đồng kinh tế với nhiều dạng khác nhau như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng đã ký kết. Việc chứng minh vi phạm và trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng cần tuân theo thủ tục tố tụng tại Trọng tài thương mại hoặc Toà án và việc miễn giảm trách nhiệm vật chất áp dụng theo quy định của pháp luật hợp đồng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi dụng hợp đồng kinh tế để vi phạm pháp luật là một thực tế và có xu hướng phát triển. Để hạn chế các hành vi trên, cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc phòng ngừa, đấu tranh xử lý, chống hình sự hoá các vi phạm hợp đồng kinh tế, đồng thời phải hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.

Nguyễn Thanh Tú, Pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2005, tr.24-32: Bài viết xem xét mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và chuyển giao công nghệ, thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Liên minh Châu Âu. Qua đó, tác giả kiến nghị nhanh chóng ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật cạnh tranh trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Luật chuyển giao công nghệ sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2006 cần có quy định về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ và xem xét nó dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, bổ sung cho các quy định hiện hành trong Luật cạnh tranh.

Nguyễn Thị Yến, Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Tạp chí Luật học số 2/2005, tr.46- 49: Do Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp, không phải là cơ quan xét xử như Toà án, không nhân danh quyền lực Nhà nước để giải quyết, do vậy cần phải được sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp, cụ thể là Toà án nhân dân và cơ quan thi hành án. Sự hỗ trợ thể hiện qua việc chỉ định, thay đổi trọng tài viên đối với trọng tài vụ việc; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, lưu trữ hồ sơ trọng tài đối với trọng tài vụ việc; huỷ hay không huỷ quyết định trọng tài; hỗ trợ trong việc thi hành quyết định trọng tài. Việc hỗ trợ của các cơ quan tư pháp với hoạt động của trọng tài là một điểm mới của Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Nó làm cho hoạt động của Trọng tài thương mại có tính khả thi cao.

Nguyễn Khánh Ngọc, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và một số suy nghĩ về việc thực hiện trong mối liên hệ với Toà án, Tạp chí Toà án số 10 (5/2005), tr.2-10: Quy định trong Pháp lệnh về Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam là những quy định pháp luật mới xuất hiện trong vài năm gần đây. Mục đích của những quy định này nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Qua kinh nghiệm thực hiện các quy định về chống phá giá hàng hoá nhập khẩu ở một số nước, chúng ta cần phải ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết các quy định của Pháp lệnh này. Ngoài ra, cần phải đào tạo các Thẩm phán có năng lực trình độ để giải quyết những vụ kiện có liên quan đến chống bán phá giá, đồng thời cũng cần xây dựng mô hình Toà án là Toà án chuyên trách chứ không xây dựng toà án theo địa bàn.

Pháp luật hình sự

Trần Văn Độ, Thi hành hình phạt tử hình ở một số nước trên thế giới và vấn đề hoàn thiện pháp luật về thi hành án tử hình ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2005, tr.61-66: Trên thế giới có trên 110 nước bỏ hình phạt tử hình. ở Việt Nam hiện nay, vẫn cần duy trì hình phạt tử hình nhưng nên bỏ hình phạt này đối với tội phạm kinh tế. Cần quy định việc hoãn thi hành án tử hình với khả năng ân giảm và thay xử bắn trực tiếp bằng xử bắn gián tiếp. Bên cạch hình thức xử bắn, nên nghiên cứu thêm biện pháp tiêm thuốc độc và nghiên cứu về Luật hiến tạng của những người tử tù.

Hồ Sỹ Sơn, Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2005, tr.63-68: Mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và 2003 là chưa ổn. Để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, cần hoàn thiện mối quan hệ này theo hướng bảo đảm tính độc lập của mỗi cơ quan. Thứ nhất, cần xem xét lại thẩm quyền của Tòa án trong việc khởi tố vụ án hình sự; thứ hai, cần quy định thủ tục giải quyết trong trường hợp Tòa án xét thấy việc rút truy tố của Viện kiểm sát không có căn cứ; thứ ba, cần quy định lại giới hạn xét xử sơ thẩm; thứ tư, cần mở rộng thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc sửa bản án theo hướng tăng nặng trong trường hợp có kháng nghị ngược lại của Viện kiểm sát.

Pháp luật dân sự

Trần Phương Đạt, Địa vị pháp lý của người nước ngoài ở Việt Nam tiếp cận dưới góc độ pháp luật dân sự, Tạp chí Kiểm sát số 11(6/2005), tr. 25- 27: Hiện nay nước ta chưa có một đạo luật riêng quy định về địa vị pháp lý của người nước ngoài, nhưng dưới góc độ pháp luật về dân sự thì địa vị pháp lý của họ đã được quy định ở nhiều văn bản khác nhau như trong lĩnh vực nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, quyền sở hữu tài sản và thừa kế... Việc quy định chế độ pháp lý của người nước ngoài trong các văn bản khác nhau nhìn chung là chưa đầy đủ, có thể tạo ra sơ hở cho người nước ngoài lợi dụng để hoạt động gây phương hại đến an ninh - trật tự. Để công tác quản lý người nước ngoài nhanh chóng đi vào nề nếp, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan.

Phan Chí Hiếu, Thẩm quyền giải quyết các việc kinh doanh, th­ương mại theo Bộ luật Tố tụng dân sự: Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành, Đặc san Nghề luật, tr.32- 41: Bộ luật Tố tụng dân sự có nhiều điểm mới, tiến bộ nhưng trong quá trình thực hiện sẽ gặp khó khăn vướng mắc nh­ư thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, th­ương mại. Để khắc phục cần phải có hư­ớng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao, như cần phải coi việc xác định vụ án phát sinh từ tranh chấp về kinh doanh, thư­ơng mại hay dân sự, lao động chỉ thuần túy mang tính kỹ thuật và thuộc quyền chủ động của Tòa án. Do vậy các sai sót trong việc xác định vụ án là kinh doanh thư­ơng mại hay dân sự, không bị coi là căn cứ để kháng cáo, kháng nghị và để hủy án, sửa án. Nên quy định các tranh chấp về kinh doanh th­ương mại chỉ là dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự và sử dụng phương pháp loại trừ để phân định vụ án về kinh doanh, thương mại với vụ án về dân sự…

Đặng Vũ Huân, Nâng cao vai trò nhận thức xã hội trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 5/2005, tr.31-36: Sở hữu trí tuệ là những sáng tạo trí tuệ của con ng­ười, đ­ược thừa nhận và dành cho ngư­ời đó sự độc quyền trong thời hạn nhất định. Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ b­ước đầu đã đạt đư­ợc những kết quả như­ng còn khiêm tốn. Muốn đạt đ­ược hiệu quả cao hơn nữa, cần phải nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này bằng cách tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho tất cả các đối t­ượng liên quan, đồng thời phải tăng c­ường các hoạt động dịch vụ t­ư vấn, thông tin về sở hữu trí tuệ, củng cố và nâng cao vai trò của các Hội về sở hữu trí tuệ./.

Tiếp theo số trước, NCLP tiếp tục giới thiệu nội dung tổng hợp các bài viết của nhiều tác giả đăng trong các Tạp chí

Nhà nước và pháp luật

Nguyễn Quốc Sửu, Nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước qua các bản Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tháng 5/2005, tr.15 - 20: Từ khi có được độc lập đến nay, Nhà nước ta đã qua nhiều lần sửa đổi Hiến pháp và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Sự phát triển quyền lực nhà nước ở các bản Hiến pháp có sự "kế thừa""biến đổi" cho phù hợp với thực tế. Hiến pháp 1946 đã áp dụng nguyên lý cơ bản của "thuyết phân quyền" trong tổ chức quyền lực nhà nước. Hiến pháp 1959 bắt đầu xu hướng tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội và đỉnh cao của nó là Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1992 được sửa đổi năm 2001 thể hiện sự phân công quyền lực nhà nước, trong đó phân biệt rõ chức năng của Quốc hội, của Chính phủ, của Toà án và Viện kiểm sát; đồng thời tăng cường quyền cho người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước.

Trịnh Duy Tám, Một số suy nghĩ về công tác hệ thống hóa pháp luật của cơ quan tư pháp trong điều kiện hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2005, tr.12-15: Hệ thống hóa pháp luật gồm tập hợp hóa và pháp điển hóa. Tập hợp hóa là sắp xếp văn bản quy phạm pháp luật hoặc các văn bản luật riêng theo một chuẩn mực nhất định. Pháp điển hóa là tập hợp các văn bản đã có theo một trình tự nhất định, loại bỏ những quy phạm lỗi thời và xây dựng những quy phạm mới thay thế quy phạm đã bị bỏ, đồng thời khắc phục chỗ trống, sửa đổi quy phạm hiện hành… Hiện nay, công tác pháp điển hóa đang là vấn đề bức xúc và công tác tập hợp hóa nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức. Từ thực trạng trên, các cơ quan tư pháp cần tăng cường phối hợp chặt chẽ trong rà soát văn bản để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, đồng thời ban hành văn bản hướng dẫn mới. Đồng thời tiến hành tập hợp toàn bộ các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật theo năm ban hành hoặc theo từng ngành luật.

Hoàng Thị Kim Quế, Một số nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 5/2005, tr.15- 21: Vấn đề con người là yếu tố xuyên suốt các quan điểm của Hồ Chí Minh  về pháp luật. Khi trình bày quan điểm pháp luật, Người luôn trình bày trong một chỉnh thể thống nhất với các vấn đề dân chủ, tự do, kinh tế, văn hóa… Người luôn kết hợp lý luận và thực tiễn. Người chỉ ra vai trò của pháp luật là công cụ đảm bảo tự do, dân chủ chứ không phải pháp luật là trừng phạt, bạo lực. Tư tưởng của Người về pháp luật luôn gắn liền với công bằng, độc lập, bình đẳng, dân quyền. Người chỉ ra mối quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, trong đó chú trọng đến mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội, sự thống nhất hữu cơ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm. Đối với mối quan hệ giữa đạo đức với pháp luật, đó là mối quan hệ biện chứng giữa hình thức và nội dung, pháp luật là những quy định hợp với lẽ phải, luôn hướng thiện, hợp lẽ sống và diện trừ cái ác.

Lưu Tiến Dũng, Công bố phán quyết của tòa án, cảm nghĩ của một luật sư, Tạp chí Tòa án tháng 1/2005 (số 2), tr.18-18: Không chỉ riêng đối với luật sư ở các nước theo hệ thống án lệ mà cả luật sư ở các nước theo hệ thống pháp luật dân sự cần tiếp cận các phán quyết của tòa án, vì pháp luật dù có thành văn và chi tiết đến đâu cũng không thể khái quát được. ở nhiều trường đại học nổi tiếng, bản án, phán quyết của tòa án là một tài liệu giảng dạy và học tập. Việc công bố các bản án, phán quyết của tòa án có ý nghĩa to lớn. Việc công bố bản án, quyết định của Tòa án ở Việt Nam đòi hỏi phải có sự cam kết mạnh mẽ từ phía Nhà nước và đặc biệt là ngành tòa án.

Đỗ Văn Đại, Về việc công bố bản án của Tòa án tối cao ở Pháp và ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Pháp lý số 2/2005: Thông thường, bản án được công bố trên giấy. Ngày nay, các bản án còn được công bố thông qua phương tiện tin học. Trong thực tế, các bản án được khai thác ở nhiều góc độ khác nhau. Bài viết chỉ đề cập đến việc khai thác các bản án được công bố trong hoạt động xét xử và trong hoạt động giảng dạy. Việc công bố bản án của Tòa án tối cao có rất nhiều lợi ích: củng cố việc áp dụng thống nhất pháp luật; có lợi cho công tác lập pháp; làm tăng chất lượng luật gia. Nếu dường như tất cả bản án của Tòa án tối cao Pháp ngày nay được công bố thì tuyệt đại đa số bản án của Tòa án tối cao Việt Nam không được công bố. Đã đến lúc chúng ta phải cho rằng, các phán quyết của Tòa án tối cao không phải là tài sản riêng của Tòa án mà là tài sản chung của toàn dân bởi vì, khi xét xử, Tòa án chỉ nhân danh Nhà nước cộng hòa xã hội Việt Nam, nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Trần Văn Thuân, Một số vấn đề về luật sư công trong Dự án Pháp lệnh trợ giúp pháp lý, Tạp chí Kiểm sát số 11 (6/2005), tr.38- 40: Nội dung quy định trong Pháp lệnh cần phải đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật và không thể vượt ra ngoài quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan. Việc quy định thành lập đội ngũ luật sư công là viêc chức nhà nước cần phải được cân nhắc kỹ. Trong quá trình soạn thảo, Pháp lệnh cần nghiên cứu kinh nghiệm của nhiều nước, đặc biệt là của Trung Quốc, trong đó quy định trong một năm, mỗi luật sư có nghĩa vụ thực hiện 01 đến 02 vụ việc trợ giúp pháp lý; trong trường hợp không thực hiện trợ giúp pháp lý theo nghĩa vụ, thì phải nộp một khoản tiền nhất định vào quỹ trợ giúp pháp lý. Việc quy định chế định luật sư công trong Dự án Pháp lệnh trên cần được nghiên cứu một cách đầy đủ. Chưa nên đưa vấn đề luật sư công trong Dự án Pháp lệnh lần này mà để quy định một cách toàn diện, đồng bộ trong dự án luật về luật sư.

Nguyễn Thế Quyền, Một số vấn đề hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện của công dân, Tạp chí Luật học số 3/2005, tr. 66- 69: Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật. Tuy nhiên nhiều quy định đã bộc lộ sự bất hợp lý, cần nhanh chóng được sửa đổi, bổ sung: mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật khiếu nại tố cáo; coi việc giải quyết khiếu tố là thẩm quyền đương nhiên của các cơ quan thanh tra; mỗi vụ việc chỉ được giải quyết ở hai cấp và sau mỗi lần giải quyết, nếu không đồng ý thì công dân có quyền khởi kiện ra Toà hành chính. Ngoài ra, cần mở rộng thẩm quyền của toà án trong việc xử lý các văn bản quản lý hành chính nhà nước. Việc khởi kiện vụ án hành chính không nên bị ràng buộc bởi điều kiện là phải có khiếu nại. Bên cạnh đó, cũng cần thiết kế lại Toà hành chính theo mô hình chủ yếu lệ thuộc theo chiều dọc. Cần sớm thành lập Tòa án hiến pháp.

Nguyễn Am Hiểu, Bàn về đối tượng điều chỉnh và tính thống nhất trong Dự thảo Luật Thương mại (sửa đổi), Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2005, tr.24-27: Cũng như nhiều quan hệ xã hội, trong hoạt động thương mại cần có sự điều chỉnh của luật tư và luật công. Tuy nhiên, nếu chấp nhận những vấn đề của luật công trong Luật Thương mại thì Luật nàysẽ không có tính ổn định cao vì công việc quản lý nhà nước thường xuyên thay đổi. ở Việt Nam, nguyên tắc quan hệ luật chung-riêng bắt đầu được áp dụng để giải quyết các quy định mâu thuẫn hay khác nhau và góp phần làm cho pháp luật có tính hệ thống hơn.

Pháp luật dân sự

Phan Chí Hiếu, Tổng thuật hội thảo “Bộ luật Tố tụng dân sự - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”, Đặc san Nghề luật, tr.2-14: Vừa qua Học viện Tư­ pháp đã tổ chức hội thảo với nội dung “Bộ luật Tố tụng dân sự - Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”. Các đại biểu tham gia hội thảo đã phát biểu về nhiều vấn đề nh­ư chứng cứ. Về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, các quy định mới của Bộ luật có khả năng giải quyết đ­ược một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn như­ng cũng có một số v­ướng mắc cần phải có h­ướng dẫn. Về phiên tòa sơ thẩm so với các quy định trư­ớc có tiến bộ, như­ng áp dụng vào thực tế có những v­ướng mắc cần đư­ợc tháo gỡ. Ngoài các vấn đề trên, các đại biểu còn bày tỏ quan điểm về điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc tuyên án…

Vũ Lê Trung, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và vấn đề xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của Công ty Honda Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 5/2005, tr.37-42: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là sự bảo hộ của pháp luật dành cho thành quả đầu t­ư mà nhà sản xuất đã bỏ ra để đư­a sản phẩm đến đ­ược với ng­ười tiêu dùng. Trong thời gian vừa qua, tình hình vi phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra một cách phổ biến, nhất là đối với sản phẩm của Công ty Honda Việt Nam. Công ty đã dùng nhiều biện pháp để ngăn chặn nh­ưng kết quả chư­a đ­ược là bao. Nguyên nhân là do cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, các văn bản pháp luật quy định ch­ưa đ­ược thống nhất, mức độ xử phạt chư­a nghiêm khắc. Việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp có tầm quan trọng lớn trong thời kỳ mở cửa và hội nhập ở nước ta hiện nay.

Lê Việt Long, Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp - Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và Phát luật, tháng 5/2005, tr.60-63: Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm, xâm phạm về sở hữu công nghiệp diễn ra một cách khá phổ biến và ngày càng phức tạp. Nguyên nhân của hiện tượng này trước hết là việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập và chưa có hiệu quả, các chủ sở hữu ngại tiếp xúc với Toà án, hiểu biết của xã hội nói chung và của chủ sở hữu nói riêng, cũng như việc xử lý các hành vi xâm phạm bằng biện pháp hình sự còn hạn chế. Để ngăn chặn tình trạng này, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời phải xây dựng một đạo luật cũng như một cơ quan độc lập về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp luật hình sự

Đào Trí úc, Cải cách tư pháp hình sự và vấn đề phòng, chống oan, sai, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2005, tr.3-10: Oan, sai trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử có nhiều dạng biểu hiện và do nhiều nguyên nhân. Đề phòng và chống oan, sai phải được coi là một trong những giải pháp quan trọng của hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, là một trong những mục tiêu quan trọng của cải cách tư pháp hình sự. Đồng thời, cần có một nhận thức rõ, phòng chống oan, sai phải là một hệ thống các giải pháp có liên quan với nhau nhằm tác động từ nhiều phía, trên nhiều mặt.

Tường Duy Kiên, Một số vấn đề về tính nhân đạo trong tư duy lập pháp hình sự Việt Nam, Tạp chí kiểm sát số 9 (5/2005), tr.22- 24: Xuất phát từ quan điểm lấy phòng ngừa và giáo dục là chính, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã có nhiều quy định thể hiện tính nhân đạo trong việc xử lý đối với hành vi phạm tội. Trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp cũng như xu thế hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật là quan trọng và cần thiết. Cụ thể cần nghiên cứu giảm các điều luật áp dụng án tử hình, đa dạng các hình phạt để thay hình thức phạt tù giam, bổ sung thêm một số quy định mang tính nhân đạo hơn đối với đối tượng phạm tội là người già, người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Đỗ Xuân Tựu, Có tội "tham ô tài sản" trong doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài không?, Tạp chí Kiểm sát số 5 (tháng 3/2005), tr.24-25: Từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực, chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 278 về tội "tham ô tài sản"". Về hành vi chiếm đoạt tài sản trong doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài, có quan điểm cho rằng, hành vi đó phạm vào tội "tham ô tài sản" nhưng cũng có quan điểm cho rằng hành vi này phạm vào tội "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Tội tham ô tài sản phải có đủ các điều kiện: phải là công chức, tài sản đó phải là công sản và người đó phải thực hiện hành vi công vụ. Do doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài là sở hữu tư nhân, người làm việc là người làm thuê và hoạt động nhằm mục đích kiếm lợi nên không thể coi hành vi chiếm đoạt tài sản trong lại hình doanh nghiệp này là tội tham ô tài sản.

Tiếp theo số trước, mục Tạp chí trong Tạp chí lần này tiếp tục giới thiệu nội dung tổng hợp các bài viết của nhiều tác giả đăng trong các Tạp chí.

Nhà nước và pháp luật

Trần Thái Dương, Sự hình thành và phát triển quan điểm nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của đảng ta trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2005, tr. 7 và tiếp theo: Nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam bắt nguồn từ quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả khái quát những dấu hiệu đặc trưng về NNPQ: thứ nhất, Có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, hoàn chỉnh, chất lượng cao; mọi người phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật ; thứ hai, bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện thông qua cơ quan dân cử và các hình thức dân chủ trực tiếp; thứ ba, quản lý xã hội bằng pháp luật; thứ tư, tổ chức nhà nước theo nguyên tắc thống nhất. Tác giả cũng nêu một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu thêm để củng cố tư duy lý luận cho công cuộc đổi mới.

Nguyễn Thị Vy, Về các phương pháp làm chủ của nhân dân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 (5/2005), tr. 21-26: Nguyên tắc vận hành của hệ thống chính trị nước ta mang tính chất xuyên suốt là "Nhân dân lao động làm chủ thông qua quyền lực của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng". Người dân thực hiện quyền làm chủ qua một số phương thức như tham gia quản lý công việc của nhà nước; bầu cử, ứng cử; đóng góp ý kiến, kiến nghị đối với chủ trương, chính sách, pháp luật; thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

Đào Trí úc, Xã hội học thực hiện pháp luật - những khía cạnh nhận thức cơ bản, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2005, tr.3-6: Nếu như xây dựng và ban hành pháp luật là một quá trình lao động quyền lực thì thực hiện pháp luật là một quá trình rộng hơn. Sau khi ra đời, một quy phạm tiếp tục chịu sự chi phối của thực tiễnthông qua hành vi của chủ thể thực hiện pháp luật-từ cơ quan nhà nước đến người dân và mức độ hưởng ứng quy phạm pháp luật phụ thuộc vào sự phù hợp của pháp luật với lợi ích của chủ thể. Vì vậy, trong quá trình thực hiện pháp luật, bên cạnh sự cần thiết của việc giáo dục, tuyên truyền pháp luật cần đến bộ máy cưỡng chế thi hành pháp luật. Đặc biệt cần tiếp tục tìm hiểu và ghi nhận các lợi ích, khuynh hướng xã hội để bảo đảm việc áp dụng sát hơn, cần làm rõ những yếu tố mới xuất hiện có khả năng chi phối quá trình áp dụng pháp luật. Và bên cạnh việc tìm hiểu trình độ và khả năng của các chủ thể thực hiện pháp luật, cần có các cơ chế đầy đủ, minh bạch, công khai, dễ thực hiện, tiện lợi cho các chủ thể để đưa pháp luật vào đời sống.

Nguyễn Văn Tuân, Vị trí, nguyên tắc tổ chức và họat động bổ trợ tư pháp, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 2/2005, tr. 12-15: Hoạt động bổ trợ tư pháp không nằm trong hoạt động quyền lực nhà nước, không phải là hoạt động tư pháp nhưng có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tư pháp, với thực thi quyền tư pháp. Bổ trợ tư pháp phải được hoạt động theo nguyên tắc chuyên nghiệp và chuyên môn hóa. Nó đòi hỏi trách nhiệm trước pháp luật và lương tâm nghề nghiệp. Cần xã hội hóa nghề bổ trợ tư pháp và bí mật nghề nghiệp là một nguyên tắc đặc thù của nghề nghiệp này.

Nguyễn Thanh Tú, Thỏa thuận về lãi suất giữa các ngân hàng và pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2005, tr. 56-64: Tháng 7/2004, dưới sự chủ trì của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm khoảng 70% thị phần huy động vốn) đã bàn và đi đến thỏa thuận về trần lãi suất. Theo tác giả, thỏa thuận này bị cấm, không được hưởng quyền miễn trừ khi pháp luật cạnh tranh có hiệu lực và hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh. Ngân hàng nhà nước không thể can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng và các doanh nghiệp, hiệp hội khác cần cẩn trọng trong việc giao kết và thực thi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Chính phủ, Bộ Thương mại cần sớm hướng dẫn, phổ biến nhanh chóng Luật Cạnh tranh.

Pháp luật hình sự

Trần Mạnh Đạt, Tội kinh doanh trái phép theo Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 và hướng hoàn thiện tr­ước xu thế hội nhập quốc tế, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2-2005), tr. 10-13: Từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực vẫn chư­a có văn bản hư­ớng dẫn đối với các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trong đó có tội kinh doanh trái phép. Để phù hợp với nền kinh tế thị trường, tác giả kiến nghị sớm ban hành những văn bản hư­ớng dẫn, giải thích về tội kinh doanh trái phép theo hướng hạn chế và thu hẹp vào một số ngành nghề nhất định như­ luật về ngành tín dụng, ngân hàng, chứng khoán.

Bùi Quang Nhơn và Phạm Văn Beo, Cần tội phạm hóa và cụ thể hóa các hành vi nguy hiểm liên quan đến máy vi tính, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 15-21: Quy định hiện hành của Bộ luật Hình sự về tội phạm mạng còn nhiều bất cập. Các hành vi phạm tội liên quan đến mạng máy vi tính cần được cụ thể hóa thông qua việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự. Cần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ đối với loại tội phạm này.

Phạm Hồng Thuỷ, Những điểm xung đột pháp luật giữa chế định khởi tố vụ án hình sự quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Tạp chí Kiểm sát số 9 (5/2005), tr. 41- 42: Việc Bộ luật Tố tụng dân sự giao cho toà án quyền khởi tố vụ án hình sự trong lĩnh vực tố tụng dân sự là bất hợp lý cả về lý luận cũng như thực tiễn. Bộ luật này không nêu rõ ai trong toà án được giao quyền khởi tố, dẫn đến cách hiểu thông thường là chánh án và phó chánh án, nhưng theo Bộ luật Tố tụng hình sự, thì việc khởi tố vụ án hình sự chỉ được giao cho hội đồng xét xử. Về thời hạn chuyển các quyết định khởi tố, Điều 388, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án, toà án phải chuyển quyết định và tài liệu liên quan cho viện kiểm sát nhưng trong Bộ luật Tố tụng hình sự lại quy định trong thời hạn là 24 giờ... Để khắc phục tình trạng này, đề nghị bỏ các quy định nêu trên của Bộ luật Tố tụng dân sự vì nó đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đinh Khắc Tiến, Nguyên nhân và một số giải pháp để hạn chế việc viện kiểm sát truy tố, toà án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội, Tạp chí Kiểm sát số 4(02/2005), tr 45- 49: Trong năm 2003, viện kiểm sát trong cả nước đã truy tố 42 bị cáo nhưng sau đó toà án đã tuyên vô tội. Nguyên nhân là do nhận thức và áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự chưa đúng; năng lực nghiệp vụ và trách nhiệm của kiểm sát viên chưa được cao; về công tác lãnh đạo chỉ đạo chưa được sâu sát; hướng dẫn giải thích những quy định của Bộ luật Hình sự chưa được kịp thời đầy đủ. Để khắc phục tình trạng trên cần phải nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra truy tố xét xử, nâng cao chất lượng chỉ đạo điều hành trong giải quyết án hình sự, xây dựng đội ngũ kiểm sát viên có năng lực, trình độ và trách nhiệm. Phải quản lý các trường hợp toà án tuyên không tội và kiểm điểm trách nhiệm cá nhân, tập thể, và có hình thức xử lý thoả đáng.

Nguyễn Duy Hưng, Về thời điểm chuyển đổi tư cách bị can sang tư cách bị cáo trong tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2005, tr.57-59: Tư cách tố tụng bị can được bắt đầu từ khi họ bị khởi tố, nhưng từ thời điểm nào tư cách này chuyển sang tư cách bị cáo? Theo tác giả, đó là từ thời điểm bị can bị viện kiểm sát truy tố sang tòa án. Cách xác định này sẽ đảm bảo quyền bào chữa hơn cho người bị buộc tội vì họ biết được rằng, họ đang bị cáo buộc công khai, chính thức trước tòa án và cần chuẩn bị bào chữa nghiêm túc.

Trương Quang Vinh và Cao Thị Oanh, Một số vấn đề về dấu hiệu pháp lý của tội đua xe trái phép, Tạp chí Luật học, số 1/2005, tr. 65-70: Theo quy định, đó là các phương tiện đua có động cơ gắn máy. Theo bài viết, tất cả trường hợp sử dụng phương tiện đua lưỡng tính như xe đạp gắn máy đều được xác định là phương tiện có gắn động cơ. Bản thân hành vi đua xe trái phép đã có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội để xác định là tội phạm. Vì vậy, hành vi đua xe trái phép chưa gây ra hậu quả mà chỉ bị xử phạt hành chính là quá nhẹ. Cũng theo bài viết, cần bỏ dấu hiệu đặc biệt về nhân thân trong cấu thành tội phạm cơ bản và, trừ khi có hậu quả phi vật chất như ảnh hưởng xấu đến thực hiện đường lối của Đảng, tùy từng trường hợp mà đánh giá mức độ hậu quả do tội phạm gây ra là rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng.

Đinh Văn Quế, Vấn đề kháng nghị giám đốc thẩm về "Dân sự" trong vụ án hình sự, Tạp chí Toà án số 9 (5/2005), tr.19-22: Theo Khoản 3, Điều 278, Bộ luật Tố tụng hình sự, việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được tiến hành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Do chưa có quy định cụ thể cho biết thế nào là "dân sự trong vụ án hình sự" nên có người hiểu đó là tất cả những gì không phải là tội phạm và hình phạt liên quan đến tiền hoặc tài sản. Tuy nhiên, cũng có người hiểu bao gồm những khoản tiền hoặc tài sản có liên quan đến trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 42, Bộ luật Hình sự. Ngoài các đối tượng vừa nêu, có ý kiến cho rằng phạm vi đối tượng của Khoản 3, Điều 278 bao gồm cả người bị kết án lẫn người bị hại, nhưng có ý kiến lại cho rằng, không có đối tượng này. Việc xác định người bị kết án, người bị hại có nằm trong phạm vi kháng nghị giám đốc thẩm phần dân sự hay không rất quan trọng vì nó liên quan đến thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm. Đây là những vấn đề không mới nhưng có ý kiến khác nhau giữa thực tiễn và lý luận, mong Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao sớm có hướng dẫn.

Pháp luật dân sự

Bùi Đăng Hiếu, Tiền-một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, Tạp chí Luật học, số 1/2005, tr. 37- 40: Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa có quy định nào về tiền. Tiền có tính năng đặc biệt là khi chuyển giao thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu. Chúng ta nên phân biện nội tệ và ngoại tệ. Ngoại tệ không được coi là tiền, vì ngoại tệ không được coi là công cụ thanh toán đa năng-một tính năng quan trọng của tiền. Chỉ có những chủ thể nhất định, ví dụ như ngân hàng mới được phép xác lập giao dịch đối với nó. Cũng không nên coi ngoại tệ là giấy tờ trị giá bằng tiền hay tài sản, bởi lẽ không xác định được ai là chủ thể nghĩa vụ trong đó.

Đỗ Văn Đại, Quy phạm áp dụng bắt buộc trong Tư pháp quốc tế : Từ Bộ luật Dân sự Pháp đến Bộ luật Dân sự Việt Nam, Đặc san Nghề Luật, số 9/12/2004, tr. 54- 64: Quy phạm áp dụng bắt buộc là những quy phạm quốc nội mà vai trò tự nhiên của nó là điều chỉnh các quan hệ trong nước nhưng chúng được áp dụng bắt buộc để điều chỉnh trực tiếp một vài chi tiết của quan hệ có yếu tố nước ngoài, đồng thời làm vô hiệu hoá các quy phạm xung đột đáng lẽ được áp dụng. Quyphạm áp dụng bắt buộc đã tồn tại trong pháp luật Việt Nam nhưng chỉ ở một số văn bản chuyên ngành và, khi ban hành, các nhà lập pháp nêu rõ, đây là quy phạm áp dụng bắt buộc trong quan hệ có yếu tố nước ngoài. Khác với nhiều nước trên thế giới, ví dụ ở Pháp, chúng ta chưa thừa nhận theo nguyên tắc chung sự tồn tại loại quy phạm này như một phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài. Trong thực tế, thừa nhận theo nguyên tắc chung sự tồn tại của quy phạm áp dụng bắt buộc như một phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài là cần thiết. Chúng ta nên bổ sung loại quy phạm này trong phần VII, Bộ luật Dân sự./.

Theo yêu cầu của bạn đọc, để đáp ứng thông tin tham khảo tổng thể trong nghiên cứu khoa học pháp lý, từ số tháng 5 năm 2005, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp mở mục "Tạp chí trong Tạp chí ". Mục này giới thiệu nội dung tổng hợp các bài viết của nhiều tác giả đăng trong các Tạp chí.

Tường Duy Kiên, Nhà nước pháp quyền XHCN với việc đảm bảo quyền con người, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr. 62-69: Nhà nước pháp quyền phải là Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và mọi hoạt động của Nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân, công dân nằm dưới sự ngự trị, điều chỉnh của pháp luật. Nhà nước Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền. Để là Nhà nước pháp quyền thì phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó quyền con người, quyền công dân phải là nội dung ưu tiên trong hoạt động lập pháp; xây dựng chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức trong quá trình thực thi công vụ; xây dựng tính độc lập của hệ thống cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và đề cao vai trò của các tổ chức xã hội dân sự.

Vũ Hồng Anh, Về giám sát hiến pháp ở nước ta hiện nay, Tạp chí Luật học, số 1/2005, tr. 3-11: Từ năm 1959, vấn đề giám sát hiến pháp đã được đặt ra, theo đó, đối tượng của giám sát hiến pháp chỉ bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thấp hơn hiến pháp; hành vi của các cá nhân có thẩm quyền không thuộc đối tượng giám sát hiến pháp. Về chủ thể giám sát hiến pháp, bài viết cho biết cơ quan nào có thẩm quyền giám sát, kiểm tra, đình chỉ việc thi hành hay bãi bỏ văn bản trái hiến pháp. Nhưng ở nước ta chưa thấy có hiện tượng đình chỉ việc thi hành hay bãi bỏ văn bản do vi hiến. Vì vậy, cần xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giám sát hiến pháp; quy định thống nhất nguyên tắc thực hiện quyền giám sát; tăng cường vai trò của các cơ quan Quốc hội, của Chính phủ trong việc thẩm tra tính hợp hiến của các văn bản đồng thời nghiên cứu thành lập cơ quan chuyên giám sát hiến pháp.

Tào Thị Quyên, Giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2005, tr. 45-51: Có rất ít trường hợp văn bản bị Quốc hội đình chỉ hay hủy bỏ vì vi hiến. Theo tác giả, trong khi chưa thành lập cơ quan chuyên trách giám sát tính hợp hiến của văn bản pháp luật, cần phân định rõ thẩm quyền giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; bổ sung quy định về giám sát tính hợp hiến đối với văn bản của chính Quốc hội; quy định thống nhất nguyên tắc xác định văn bản vi hiến; quy định trình tự, thủ tục thực hiện quyền giám sát; sửa đổi những quy định về hiệu lực pháp lý của kết quả giám sát. Về lâu dài, cần có cơ quan bảo hiến độc lập, chuyên giám sát tính hợp hiến của các văn bản pháp luật; cần xác định vị trí của cơ quan này trong bộ máy nhà nước; đối tượng văn bản chịu sự giám sát; thời điểm tiến hành giám sát; thủ tục và chủ thể có quyền yêu cầu xem xét tính hợp hiến; hiệu lực bắt buộc của các quyết định của cơ quan bảo hiến.

Vũ Thư, Các khía cạnh xung quanh vấn đề Luật (pháp lệnh) khung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4/2005, tr. 42-45: Luật khung là văn bản chứa đựng các quy định cơ bản, có tính định hướng hay có tính nguyên tắc làm nền tảng cho các quy định cụ thể hơn. Luật khung là hiện tượng tồn tại khách quan trong hệ thống pháp luật và thường bị lạm dụng. Vì vậy, người soạn thảo luật phải là người nắm được không chỉ các vấn đề cơ bản mà cả những vấn đề cụ thể của lĩnh vực quan hệ xã hội được luật điều chỉnh. Cần chọn người biết việc chứ không phải chỉ là người đại diện cho cơ quan này hay cơ quan kia. Đồng thời, nếu không quy định chi tiết được trong luật thì phải có văn bản hướng dẫn chi tiết kèm theo như một bộ phận cấu thành bắt buộc.

Nguyễn Đình Đặng Lục, Một số yêu cầu đặt ra đối với "luật khung", Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2005, tr. 38-40: Luật khung là văn bản luật chứa đựng những quy định mang tính nguyên tắc, định hướng làm cơ sở cho việc đề ra những quy định cụ thể. Theo tác giả, không thể lạm dụng sự tồn tại của luật khung và phải nghiên cứu, xác định đúng mức độ khung trong các văn bản; xác định giới hạn của khung pháp lý trong quá trình xây dựng văn bản; và văn bản hướng dẫn phải được chuẩn bị, ban hành đồng thời với văn bản luật.

Trần Quang Tiệp, Lịch sử luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ nhà Hồ đến thời kỳ nhà Lê, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2005, tr. 46-52: Nếu như pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lý còn mang nhiều tính khoan dung thì đến thời kỳ nhà Trần đã mang tính nghiêm khắc hơn. Đến thời kỳ nhà Hồ, chế tài hình sự được áp dụng mang tính chất hà khắc, nặng nề hơn các triều đại trước nhiều. Và pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê vừa hoàn chỉnh, vừa phản ánh được những đặc điểm của xã hội đương thời. Đó là sự sáng tạo của giai cấp phong kiến Việt Nam trong thời kỳ chế độ phong kiến đang phát triển và phồn thịnh trên cơ sở tham khảo pháp luật hình sự của Trung Hoa phong kiến.

Ngô Văn Hiệp, Chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan-Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2005, tr. 29-34: Hiện nay có 171 trường hợp bị oan mà ngành Kiểm sát phải bồi thường nhưng chỉ có 17 người làm đơn yêu cầu. Lý do là người bị oan không am hiểu pháp luật, ngại hay sợ sệt hoặc làm đơn không kịp thời. Vì vậy, để bảo vệ tốt quyền yêu cầu đòi bồi thường, cần quy định theo hướng mở rộng thời hiệu yêu cầu bồi thường. Cần bổ sung quy định theo hướng cán bộ, công chức gây thiệt hại phải trực tiếp cùng lãnh đạo cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Đồng thời, các bằng chứng để được bồi thường cần được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, có lý, có tình.

Đặng Xuân Đào, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính: những vấn đề cần sửa đổi bổ sung, Tạp chí Toà án nhân dân số 3 (2-2005), tr. 1-7: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính có nhiều vấn đề chư­a phù hợp. Để khắc phục những bất cập này, cần phải sửa đổi bổ sung nh­ững khái niệm về quyết định hành chính; quyền khởi kiện; thẩm quyền, quyền hạn của Toà án hành chính, phân biệt thẩm quyền của toà án hành chính với cơ quan có trách nhiệm giải quyết khiếu nại; uỷ quyền tham gia tố tụng; thời hiệu khởi kiện; hoãn phiên toà; các tr­ường hợp trả lại đơn kiện, đình chỉ việc giải quyết vụ án; thời hạn xem xét việc thụ lý đơn kiện; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng như­ tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án; chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân.

Lê Thanh Hùng, Việc cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm do áp dụng không đúng các điều, khoản của Bộ luật Hình sự, Tạp chí Kiểm sát số 4(02/2005) tr. 36-44: Thực trạng việc sửa bản án sơ thẩm do áp dụng không đúng các điều, khoản trong Bộ luật Hình sự thường xảy ra do áp dụng không đúng tội danh mà bị cáo đã thực hiện, do áp dụng khung hình phạt không đúng. Để khắc phục tình trạng này, cần nâng cao nhận thức, áp dụng Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành; nâng cao ý thức trách nhiệm, chất lượng thực hành quyền công tố, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời ra các văn bản hướng dẫn giải thích Bộ luật.

Đỗ Văn Đại, Quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam trong BLTTDS, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr.13-20: Theo BLTTDS, Toà án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Bài viết làm rõ thế nào là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và khi nào hợp đồng được thực hiện ở Việt Nam. Bài viết cũng làm rõ câu hỏi: mặc dù được thực hiện ở Việt Nam, các bên có được chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp không? Bài viết còn cho biết, mặc dù hợp đồng không được thực hiện ở Việt Nam, các bên có được thỏa thuận chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết tranh chấp không?

Phùng Trung Tập, Bàn về lỗi, một điều kiện xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr. 42-47: Một điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là người gây thiệt hại có lỗi. Lỗi này do pháp luật quy định trước hay còn do suy đoán? Từ một số cơ sở lý luận, tác giả nhận định lỗi không phải là do suy đoán mà do pháp luật quy định trước.

Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2005, tr. 26-31: Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Và khi có vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Pháp luật Việt Nam giới hạn tối đa mức phạt vi phạm: 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm trong Luật Thương mại và 5% trong Bộ luật Dân sự. Để các quy phạm pháp luật phát huy hiệu quả thì giới hạn trên không nên tồn tại. Hơn nữa, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ được sử dụng.

Ngô Thị Hường, Mối quan hệ giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2005, tr. 13-18: Qua phân tích các vấn đề chủ thể, bài viết cho biết điều kiện phát sinh và ranh giới giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng là hai nghĩa vụ riêng biệt và có thể thay thế cho nhau. Việc xác định mối quan hệ giữa hai nghĩa vụ này trong Luật Hôn nhân và gia đình góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng, cũng như sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ cấp dưỡng trong Luật này.

Chuyên đề Bộ luật dân sự (sửa đổi)

Nhân dịp sửa đổi Bộ luật Dân sự, nhiều bài viết đã được đăng trên các Tạp chí. Vì số lượng bài viết nhiều, chúng tôi chỉ trích dẫn trong số này một số tên tác giả, chủ đề của bài viết và Tạp chí đăng bài viết.

Về quyền sử dụng đất: Khuất Văn Nga, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 7-10; Nguyễn Thị Mai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 8-12.

Về tài sản và quyền sở hữu: Phạm Công Lạc, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 3-9.

Về quyền tài sản: Nguyễn Ngọc Điện, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005, tr. 11-15; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 16-21.

Về thời hiệu khởi kiện: Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 11-12.

Về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quân sự: Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 13-14; Trần Đình Hảo, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005, tr. 16-21; Nguyễn Văn Vân, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 9-23.

Về giao dịch dân sự: Trần Hồng Thanh, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 15-17; Trần Đình Hảo, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 9-13.

Về hợp đồng: Đỗ Văn Đại, Hà Thị Mai Hiên và Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2005, tr. 21-24; số 3/2005, tr. 10-19 và số 4/2005, tr. 22-27; Lê Nết, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr 14-18.

Về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Đỗ Văn Đại, Nguyễn Thanh Hải và Nguyễn Huy Giang, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 18-20, tr. 20-22 và tr. 22-23; Vũ Thành Long, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 7-8; Phùng Trung Tập, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 2-5, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/ 2005. tr. 28-35.

Về thừa kế: Lê Hồng Hải, Trương Anh Tuấn, Nguyễn Quốc Huân, Khương Thị Minh Hằng và Vũ Thành Long, Tạp chí kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 34-35, tr. 37-38, tr. 38-39, tr. 40, tr. 40-41.

Về hụi, họ: Trần Thị ánh Nguyệt, Đinh Xuân Dụ, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005) tr. 44-45 và tr. 45-46; Trần Văn Biên, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 21-23.

Về vay tài sản: Trần Văn Biên, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2005, tr. 42-45.

Về sở hữu trí tuệ: Lê Mai Thanh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2005, tr. 33-35.

Về quan hệ có yếu tố nước ngoài: Đỗ Văn Đại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 35-39 và Đặc san Nghề luật số 9/12-2004, tr. 54-64; Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 24-32.

Về công chứng nhà nước: Lê Thị Phương Hoa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 6-7.

Về quyền nhân thân: Lê Minh Hùng, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 3-8.

Về hoạt động của ngân hàng thương mại: Nguyễn văn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 2-6.

Bài viết tổng hợp một số vấn đề:

Đinh Hữu Tời, Nguyễn Đình Cung, Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Như Hùng, Phan Xuân Tuy, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr.24-33; Nguyễn Am Hiểu, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 8-11; Nguyễn Đức Lương, Tạp chí Kiểm sát só 6 (3/2005), tr. 42-43.

 

Cập nhật ( 19/08/2010 )
 
< Trước